Chuyến tàu năm ấy không có vé khứ hồi
Nhập ngũ tháng 10 năm 1974, xuất ngũ tháng 12 năm 1979.
Đã hơn bốn mươi năm rồi, nhưng tôi vẫn nhớ rất rõ chuyến tàu ngày nhập ngũ.
Một chuyến tàu cũ, đông nghịt thanh niên mặc áo xanh mới phát. Người ngồi kín các băng ghế, kín cả lối đi. Ba lô, bi đông, mũ cối treo lủng lẳng trên thành tàu.
Tiếng cười nói ồn ào lắm.
Ai cũng cố tỏ ra vui vẻ.
Nhưng lúc tàu chuyển bánh, rất nhiều người lặng đi.
Vì ai cũng hiểu, chuyến tàu ấy không biết bao giờ mới có ngày trở lại.
Tôi lên đường cuối năm 1974, khi chiến tranh vẫn còn khốc liệt. Ngày chia tay, mẹ tôi dúi vào tay một chiếc khăn mặt cũ rồi quay đi rất nhanh. Tôi biết bà khóc nhưng không dám nhìn theo.
Ngày ấy đàn ông ít ôm nhau, ít nói lời tình cảm.
Chỉ âm thầm tiễn nhau đi.
Vào quân đội rồi tôi mới biết tuổi trẻ của người lính không giống ngoài đời.
Người khác hai mươi tuổi có thể đi chơi, yêu đương, tụ tập bạn bè. Còn chúng tôi sống bằng kỷ luật, bằng hành quân và những đêm ngủ võng giữa rừng.
Có hôm đang ăn dở bữa cơm phải đứng dậy lên đường.
Có hôm đi bộ từ sáng đến tối, chân phồng rộp vẫn không ai dám kêu.
Nhưng lạ lắm.
Càng gian khổ, anh em càng thương nhau.
Tôi nhớ một lần hành quân trời mưa tầm tã. Đất bám đầy dép, bước chân nặng như đeo đá. Một đồng đội đi phía sau thấy tôi tụt lại liền lẳng lặng kéo hộ cái ba lô.
Không nói gì cả.
Chỉ kéo giúp rồi đi tiếp.
Tình đồng đội thời ấy nhiều khi chỉ là những chuyện rất nhỏ như vậy thôi.
Năm 1975, khi nghe tin miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả đơn vị gần như vỡ òa.
Có người hét lên.
Có người cười lớn.
Có người ngồi lặng đi rồi khóc.
Còn tôi lúc ấy lại nhớ đến chuyến tàu năm nào.
Tôi nghĩ chắc sẽ có nhiều người không bao giờ trở lại được sân ga cũ nữa.
Chiến tranh kết thúc nhưng đời lính của chúng tôi chưa dừng lại ngay. Những năm sau đó, quân đội vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ, huấn luyện và ổn định đơn vị.
Đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh nên thiếu thốn đủ thứ.
Bữa cơm đạm bạc là chuyện quen thuộc. Quần áo bạc màu, vá nhiều hơn lành. Nhưng người lính thời ấy sống lạc quan lắm.
Buổi tối rảnh rỗi, anh em ngồi quanh nhau kể đủ chuyện.
Người kể chuyện quê.
Người kể chuyện người yêu.
Có anh còn khoe sau này về sẽ nuôi cả đàn vịt thật lớn.
Nghe rất buồn cười.
Nhưng chính những câu chuyện giản dị ấy giúp chúng tôi đi qua những năm tháng khó khăn.
Tôi từng chứng kiến nhiều đồng đội trưởng thành trong quân ngũ.
Những chàng trai ngày đầu còn vô tư, bốc đồng, vài năm sau đã chững chạc hẳn. Quân đội giống như một nơi rèn sắt vậy. Vào còn thô ráp, đi ra đã khác.
Bản thân tôi cũng vậy.
Ngày mới nhập ngũ, tôi hay nóng nảy. Làm gì cũng thích nhanh. Nhưng quân đội dạy tôi sự kiên nhẫn.
Dạy tôi rằng muốn đứng vững thì phải biết chịu đựng.
Có những đêm trực khuya, nhìn đồng đội ngủ say trong lán, tôi tự nhiên nghĩ:
Mai này dù cuộc đời mỗi người có khác nhau thế nào, chắc chẳng nơi nào có được tình cảm như quãng đời lính này nữa.
Và đúng thật.
Sau này ra quân, mỗi người một quê, một cuộc sống. Có người làm nông. Có người buôn bán. Có người đi xa.
Nhưng chỉ cần gặp lại nhau là vẫn xưng hô như ngày còn trong đơn vị.
Vẫn cái kiểu cười ha hả của lính năm xưa.
Tháng 12 năm 1979, tôi xuất ngũ.
Ngày rời đơn vị, tôi lại bước lên một chuyến tàu khác.
Nhưng lần này lòng khác hẳn.
Ngày đi là một chàng trai trẻ chưa hiểu đời.
Ngày về đã là người đàn ông từng đi qua chiến tranh và những năm tháng quân ngũ gian khó.
Tàu chạy rất lâu.
Tôi ngồi cạnh cửa sổ nhìn những cánh đồng lùi dần phía sau mà nghĩ: tuổi trẻ của mình cũng vừa đi qua như thế.
Nhanh thật.


