Chuyện Tết Quý Sửu 1973 ở mặt trận Quảng Trị
Câu chuyện này vừa chạm mốc 50 năm quá khứ. Những con người ngày ấy nay đã bước vào ngưỡng cửa “Xưa nay hiếm” rồi.
Sau 81 ngày đêm chốt giữ, bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, bộ đội được lệnh rời thành ngày 16 tháng 9 năm 1972. Kể từ đây, ranh giới tạm thời giữa ta và địch là hai bờ Nam - Bắc sông Thạch Hãn. Quân địch chiếm giữ dải đất nhỏ hẹp ở đồng bằng, ven biển phía Đông. Toàn bộ phần rừng núi phía Tây Quảng Trị vẫn thuộc quyền kiểm soát của quân Giải phóng. Cũng từ đây, mọi chi viện cho mặt trận đều được vận hành qua khúc sông ở lòng chảo Ba Lòng, đoạn phía trên của sông Thạch Hãn.
Tết Quý Sửu (1973) dường như đến sớm hơn mọi năm khi chiến trường Quảng Trị vẫn đang nóng bỏng từng ngày trước và ngay sau thời điểm Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết có hiệu lực trên chiến trường ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Thời điểm đó, các trận địa pháo 130 ly của Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 45 pháo binh chúng tôi vẫn phải căng mình hỗ trợ bộ binh phía trước để giữ vững vùng giải phóng, chống địch lấn chiếm. Những trận đánh cuối cùng thật sự ác liệt và tổn thất khá nhiều xương máu bộ đội vì chưa bao giờ quân ta phải theo đuổi một chiến dịch quân sự dài ngày như bấy giờ. Chiến sự đã kéo sang tháng thứ 10, mọi điều kiện vật chất đều không cho phép ta đẩy cao thế trận phản công, khi mà so sánh lực lượng đang nghiêng về phía địch. Chỉ có tinh thần và ý chí của những người “Lính Cụ Hồ” là đối phương không thể vượt thôi.
Lúc này trong chúng tôi, chẳng một ai nghĩ đến Tết cả, mặc dù nó đã ở sát bên. Mà nếu có cũng chỉ là ý nghĩ thoáng qua vì sự sống và cái chết còn gần chúng tôi hơn ngày Tết. Đối mặt với kẻ địch giàu có súng đạn, mạng sống còn lo không giữ nổi, lo gì đón Tết?
Thực tế có rất nhiều đồng đội tôi đã ngã xuống trước ngưỡng cửa năm mới Quý Sửu 1973. Họ đã mãi mãi nằm lại chiến trường, đón một cái Tết trong lòng đất giá lạnh và cô đơn...
Càng gần đến ngày ký Hiệp định Paris thì các trận đánh càng trở nên quyết liệt hơn. Căng thẳng nhất lúc này là khu vực cảng Cửa Việt. Tranh chấp diễn ra từ ngày 25 tháng 1 đến ngày 31 tháng 1 năm 1973 (trước Tết đúng 2 ngày) ta mới giành được thắng lợi ở đây, đẩy lùi Quân lực Việt Nam Cộng hoà ra khỏi cảng Cửa Việt.
Trận đánh cuối cùng ở cảng Cửa Việt là một trận đánh giành giật vị trí cảng biển duy nhất ở Quảng Trị. Mọi cố gắng của cả hai bên đều đổ dồn vào nhằm chiếm được vị trí quan trọng này. Tính toán của phía Việt Nam Cộng hoà là bí mật đổ một lực lượng mạnh nhất gồm xe tăng, thiết giáp và lính thuỷ đánh bộ chiếm cảng Cửa Việt trước giờ quy ước ngừng bắn. Họ sẽ cắm lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng hoà để Uỷ ban Quốc tế công nhận sự hiện diện của họ ở cảng Cửa Việt trước 7 giờ sáng giờ Hà Nội (8 giờ sáng giờ Sài Gòn).
Tình hình trên toàn mặt trận cũng diễn ra tương tự như ở cảng Cửa Việt. Cả hai bên địch - ta đều thể hiện quyết tâm giành thêm những phần đất có ý nghĩa chiến lược trước giờ ngưng tiếng súng. Pháo 130 ly của chúng tôi được lệnh nổ súng liên hồi kỳ trận, anh em pháo thủ mệt đến mức kiệt sức vì phải bắn quá nhiều. Đạn pháo 130 ly của ta dội xuống đội hình lấn chiếm của địch, hỗ trợ bộ binh xung phong ào ạt vào các cụm cứ điểm địch, nhiều chỗ đánh giáp lá cà, tiêu diệt và bắt làm tù binh nhiều xe tăng, xe thiết giáp và lính thuỷ quân lục chiến của địch.
Khi Hoa Kỳ chấp nhận rút toàn bộ quân đang tham chiến trên chiến trường miền Nam Việt Nam là thắng lợi cực kỳ quan trọng của quân và dân ta trên con đường giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Với những người lính trận đang hàng ngày, hàng giờ giáp mặt với cái chết thì đó là niềm vui vô bờ bến như nhìn thấy sự sống trước mắt mình. Bởi vậy ai cũng hồi hộp chờ đón thời khắc lịch sử ấy. Không ai nghĩ gì về Tết cả vì Tết lúc này, đó là một câu chuyện quá ư phù phiếm với chúng tôi. Sự sống của các chiến binh được tính từng giờ mà sao nó chậm chạp trôi qua như diễu cợt chúng tôi vậy. Nghĩ đến Tết lúc này chỉ làm cho ý chí của ta mềm yếu hơn thôi. Bởi vì, kỷ niệm về Tết thời thơ bé bên gia đình cùng cha mẹ, anh em lại có dịp ùa về, nỗi nhớ đó làm ta bật khóc vì sự cách trở quá đau đớn này. Do vậy ở nơi trận mạc khốc liệt, chúng tôi chỉ nghĩ về sự sống trước mắt mà thôi.
Giở lại những trang nhật ký, ghi chép ngày đó mới thấy hết những gian khổ, hy sinh của bộ đội Quảng Trị khi đó.
“Ngày 28 tháng 1 năm 1973 (tức ngày 25 Tết):
Hôm nay ngày Hiệp định Đình chiến Paris có hiệu lực. Cả hai bên tham chiến đều tranh thủ thời điểm giao thời này để thực hiện ý định của mình... Trời vẫn đổ mưa từng hồi, tiếng súng vẫn chưa ngừng hẳn mặc cho đã hơn cả giờ đồng hồ vượt qua mốc hiệu lực của Hiệp định. Máy liên lạc vô tuyến 15w của H.802 đã cạn ắc quy, tôi được lệnh về ngay Tiểu đoàn bộ để đổi bình ắc quy mới. Đường đi ven các con suối trơn như đổ mỡ, làm cho đôi dầy vải cao cổ của tôi ngập trong bùn đất. Ra đến kilomet 2 đường 15L thì gặp anh em bộ binh vừa chiến đấu ở phía Đông đang di chuyển về phía Tây. Đây là những thương binh nhẹ, băng bó trắng toát nhưng vẫn tự đi được về phía sau. Những người bị thương nặng thì được cáng trên võng. Tất cả đều lầm lũi, gương mặt không có biểu cảm gì... Chắc chắn họ đang đói, khát và mệt mỏi vì căng thẳng... Đi bộ vài cây số nữa thì ra đến lòng chảo sông Ba Lòng. Từ đây, gặp một xe ô tô chạy cùng chiều, lái xe dừng lại cho tôi đi nhờ. Lúc này trên thùng xe đã chật kín lính tráng. Chẳng ai nói với ai câu nào, chỉ biết rằng ai cũng có cảm giác hài lòng khi được chạy xe ô tô giữa ban ngày ban mặt mà không còn lo bị máy bay địch bắn...”
Tiết xuân năm ấy thời tiết ở miền Trung thay đổi bất thường, từ Đèo Ngang trở vào dọc dải miền Trung mưa tầm tã. Trời đất như muốn khóc thay cho những người lính trận ở Quảng Trị vậy. Mưa to liên tục, nước sông Ba Lòng lên cao ngập bờ, cuồn cuộn chảy xuôi về biển. Ở thượng nguồn là ta, ở hạ nguồn là địch. Để tiếp tế lương thực, thực phẩm, thuốc men y tế và đạn dược, bộ đội phải dùng bao nilon gạo Trung Quốc làm phao bơi, đánh cược số phận mình cho sông nước. Trên bờ là đạn bom của quân địch, dưới sông là cuồn cuộn sóng nước, chỉ sơ xẩy là bị nước cuốn trôi vào vùng địch rồi, hoặc là trở thành tù binh, hoặc là bị tiêu diệt ngay tức khắc. Ngày ấy lính ta hay nghêu ngao câu hát chế từ bài hát Tiếng đàn Ta Lư của nhạc sỹ Huy Thục: "Sông Ba Lòng nhấn chìm đời con/ Ôi mẹ cha tha thứ đời con chia lìa từ đây". Vào thời khắc đó, bộ đội ta hi sinh rất nhiều khi họ vượt qua khúc sông hiểm trở Ba Lòng để vào trận đánh chống lấn chiếm trước khi Hiệp định Paris ký kết.



