Chuyện Thời Hoa lửa - kí ức về chiến dịch 81 Ngày đêm giữ Thành cổ mùa Hè 1972.
Chuyện Thời Hoa lửa - kí ức về chiến dịch 81 Ngày đêm giữ Thành cổ mùa Hè 1972.
Quảng Trị tháng 5-1999, nắng hè như đổ lửa trên nền đất thành cổ - nơi từng là điểm nóng khốc liệt bậc nhất trong cuộc chiến năm 1972. Giữa những lớp đất cháy sém là kí ức chưa được ngủ yên, 1 căn hầm nhỏ được phát hiện. Trong lòng đất, 5 bộ hài cốt nằm cạnh nhau, chưa từng chia lìa suốt 27 năm, một hài cốt trong tư thế ngồi tựa vào vách hầm, 2 tay ôm chặt chiếc xắc cốt vào ngực khiến nhiều người lặng đi. Bên trong chiếc xắc cốt ấy không chỉ có tấm thư, nhật kí, sổ tay... mà là 1 cuộc đời để lại bằng mùi đất ẩm, mùi thời gian và hơi thở cuối cùng của 1 trái tim từng thổn thức yêu thương.
Cựu chiến binh Lê Bá Dương - 1 người lính từng giữ từng tấc đất thành cổ, trở lại Quảng Trị trong chuyến hành hương thường niên cùng đồng đội. Ông nhận được tin báo: Trong khi thi công hệ thống thoát nước quanh khu vực bảo tàng thành cổ, công nhân đã phát hiện 1 hầm chôn những người lính. "Khi tôi đến nơi, 5 bộ hài cốt đã được đưa lên khỏi lòng đất đặt ngay ngắn trên những tấm vải đỏ. Một bộ hài cốt vẫn giữ chặt chiếc xắc cốt trong tay như không muốn rời..." - Ông Dương kể lại, giọng nghẹn đi, dù hơn 2 thập kỉ đã trôi qua.
Trong xắc cốt, có 1 cuốn sổ tay Đảng viên, 3 bức thư và 1 cuốn nhật kí. Tất cả được bọc kĩ trong túi nylon. Khi mở ra, mùi đất, mồ hôi, máu và mùi của thời gian như ùa ra. Những dòng chữ nhoè nước, giấy dính bết lại như từng được viết trong hơi thở cuối cùng. Đó là bút tích của đại uý Lê Bình Chủng, tiểu đoàn phó tiểu đoàn 3, Bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị. Những trang đầu là ghi chép công tác, nhưng càng về sau, sổ tay chuyển thành nhật kí sinh tồn. Nét chữ nhạt dần, run lên, như được viết dưới ánh sáng yếu ớt của chiếc đèn pin trong căn hầm đã bị bom đánh sập đầu tháng 8/1972.
Căn hầm đổ, tường thành vỡ. Năm người bị chôn vùi không ai bên ngoài nghe thấy họ. Bên trong, trong bóng tối đặc quánh và tuyệt vọng, họ chờ, họ sống. Và rồi, lần lượt, họ ra đi...
Là người chỉ huy, cũng là người anh cả của đội hình 5 người, Đại uý Lê Bình Chủng vừa vuốt mắt đồng đội, vừa cố giữ mình tỉnh táo. Không nước, không lương khô, thiếu cả dưỡng khí. Nhưng anh vẫn sống, không phải bằng thể lực, mà bằng tinh thần và những bức thư. Anh viết: "May còn chiếc đèn pin, thỉnh thoảng bấm lên ghi vội tình cảnh của mấy anh em... rồi lấy thư của Khới ra đọc... cũng chẳng dám đọc hết một lần, vừa tiết kiệm pin, vừa để dành mà đọc trong những ngày mình còn sống...".
Khới, tên người vợ thân yêu, Chị Phan Thị Biển Khới, người Quảng Bình. Tình yêu từ hậu phương, qua những dòng chữ nghiêng nghiêng, là thứ duy nhất anh giữ ở lại với sự sống. Trong bóng tối dày đặc, ánh sáng duy nhất là những con chữ của người vợ hiền. Rồi đến một dòng khác: "Hôm nay, chiến sĩ thứ tư bị vùi trong hầm đã hy sinh... còn lại 1 mình. Chiếc đèn pin yếu dần, chắc do pin đã cạn... đành cố đọc nốt phần còn lại trong thư của Khới rồi phải gói cất vào bọc, chờ đến lượt mình...".
Anh sống thêm được 5 ngày, đếm bằng kim đồng hồ. Mỗi ngày một đoạn thư. Ngày thứ năm, 7/8/1972, ánh đèn pin vụt tắt. Anh viết vội dòng cuối, gói thư, ôm sát ngực. Ngồi tựa vách hầm, anh trút hơi thở cuối cùng. Một người lính đã hoàn thành nhiệm vụ, lặng lẽ, trọn vẹn và không bỏ ai ở phía sau, kể cả chính mình. Giấy báo tử sau này ghi ngày hy sinh của anh là ngày 3/8/1972. Tức là trước 4 ngày không ai biết rằng trong lòng đất ấy, có một người lính đã sống thêm 5 ngày để viết nên một cuộc chia tay không lời.
Trong xắc cốt đại uý Lê Bình Chủng còn có 1 bức thư chưa kịp gửi. Một bản di chúc thấm đẫm nước mắt dành cho người vợ thân yêu và đứa con chưa một lần được thấy mặt cha. "Em Biển Khới, anh ra đi hiến dâng tính mạng cho Tổ quốc, thì em cũng phải can đảm, bớt đau khổ, đừng khóc lóc buồn nản... Nếu ngày anh có chết thì em nhớ nói cho con nghe về người cha của nó mà chưa bao giờ thấy mặt. Nếu không, bức thư này em sẽ giữ cho nó mãi mãi, cho tới khi con khôn lớn, em sẽ trao lại cho con...".
Sau đó, bức thư được trao lại cho mẹ con chị Biển Khới, bên cạnh xắc cốt của anh, giữa lòng thành cổ Quảng Trị. Một cuộc hội ngộ muộn màng, nhưng trọn vẹn trong từng hơi thở của kẻ ở người đi. Những dòng thư ấy, những trang nhật kí ấy, mãi là linh hồn của người chiến sĩ sống mãi với thời gian.
Cựu chiến binh Lê Bá Dương xúc động kể lại: "Tôi may mắn được là một trong những người đầu tiên được tiếp xúc, lật mở và chép lại vội vàng trong cuốn sổ tay ấy. Cái chết không còn đáng sợ, chỉ còn tình người, tình yêu và niềm tin sống đến tận cuối cùng". Giờ đây, trong gian trưng bày nhỏ của bảo tàng Thành cổ Quảng Trị vẫn còn lưu giữ chiếc đèn pin đã rỉ sét, chiếc xắc cốt bạc màu cùng những mảnh thư loang máu và nước mắt. Đó không chỉ là hiện vật mà dường như là linh hồn của một thế hệ, là cách một người lính chọn để sống đến phút tận cùng. Và rồi họ cũng chọn để chết một cách lặng lẽ và đẹp đẽ nhất.


