Chuyện tình giữa thời chiến
Những dòng thơ chan chứa tình cảm của người nữ chiến sĩ Trường Sơn gửi từ miền Nam may mắn sao kịp đến tay người lính pháo binh hoàn thành nhiệm vụ trở về quê nhà. Giữ đúng lời hẹn ước nơi chiến trường khói lửa, hơn một năm ông đợi bà trở về để nên vợ thành chồng.
Đó là câu chuyện tình yêu của hai CCB Nguyễn Thị Dũng và Nguyễn Tiến Thành, khu 11, xã Trưng Vương, TP Việt Trì. Cùng lên đường nhập ngũ năm 1973, khi đó cả ông và bà đều mới chỉ là những thanh niên 18, đôi mươi, chỉ biết nhau là người cùng làng rồi mỗi người về một đơn vị khác nhau. Ông trở thành lính pháo binh thuộc Sư đoàn 326, còn bà cùng các đồng đội hành quân vào Trường Sơn mở đường. Năm 1974 khi đang làm nhiệm vụ trên đường thấy đoàn xe qua, theo thói quen bà và đồng đội gọi hỏi: “Quân mình ở đâu đấy”? Là người đi đầu, ngó ra thấy dáng người quen, ông biết bà là đồng hương của mình. Chiến tranh ác liệt, giữa chiến trường gặp được người cùng quê đã là khó, gặp cùng làng thì đúng là có “duyên" với nhau. Hai người trao nhau địa chỉ hòm thư, hứa hẹn sẽ viết thư, cũng là để vơi đi nỗi nhớ quê hương.
Những cánh thư của bà gửi từ cung đường Trường Sơn nắng gió vẫn đến tay ông trong chiến trường miền Nam ác liệt. Thư qua, thư lại, ban đầu chỉ là những thăm hỏi thường tình của hai người con xa quê, dần dần, từ những đồng cảm, những sẻ chia về gian khổ, về mất mát hy sinh nơi chiến trường, về những hy vọng một ngày hòa bình lập lại đã đưa hai người xích lại gần nhau. Ông Thành nhớ lại: “Hồi đó, có lẽ do chiến trường ác liệt, nên những gì lãng mạn của tuổi trẻ chúng tôi đều gói gém vào trong những lá thư. Có lần, nhìn thấy ảnh nữ chiến sĩ đang ngắm bắn mục tiêu trên tờ họa báo, tôi liền cắt ảnh gửi cho Dũng và hỏi trêu: “Em ngắm bắn ai đấy?”. Thư từ yêu đương thì mạnh dạn lắm, vì thực ra đã là người lính nơi chiến trường đâu biết ngày mai sẽ ra sao”. Cũng có thời điểm 6, 7 lá thư không đến tay ông. Bà thì lo không biết ông nơi chiến trường ra sao, ông thì nghĩ hay bà có ai. Nghĩ vậy thôi, nhưng đang trong giai đoạn nước sôi, lửa bỏng của cả dân tộc, chuyện riêng tư cả hai đều cất giữ ở trong lòng. Đến khi 6,7 lá thư của bà đến tay ông cùng lúc thì nỗi niềm được giải tỏa.
Hòa bình lập lại, năm 1977 ông trở về địa phương, nhắn với bà còn làm nhiệm vụ ở nơi xa: “Anh đã về rồi”. Tình yêu nở hoa giữa bom đạn khiến cho người thanh niên Nguyễn Tiến Thành một lòng chờ đợi người ở phương xa.
Tổ ấm của ông bà giờ đây đã rất đông đúc với ba gia đình nhỏ của ba người con trai và 5 đứa cháu cả trai lẫn gái. Ông cười: “Thương bà ấy bị thương nên trái gió trở trời tôi cứ phải đấm lưng, nắn chân tay suốt. Ai cũng qua bom rơi, lửa đạn, nhưng là phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi hơn”. Có lẽ vì thế nên bao nhiêu năm là vợ là chồng chưa bao giờ hai ông bà nói nặng với nhau một câu. Lúc mới lấy nhau, vì công việc ông cũng đi biền biệt vào Nam, sau thương vợ, thương con còn nhỏ thiếu bàn tay đỡ đần của người chồng, người cha nên ông xin chuyển công tác về ở gần để cùng bà gánh vác gia đình. Tuy không còn như thời thanh niên, vẫn thấy tình yêu của ông bà hiển hiện rõ qua từng lời nói, cử chỉ. Những kỷ niệm chan chứa yêu thương vẫn luôn được cả hai khắc sâu trong tâm khảm như một hồi ức đẹp về một tình yêu bắt đầu từ nơi chiến trường khói lửa.



