Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Chuyện tình gửi lại chiến trường xưa

Trần Thị Mười, thường gọi là Bà Mười, sinh năm 1952, quê ở vùng bãi bồi ven sông Trà Khúc, Quảng Ngãi. Năm 1970, khi mới 18 tuổi, bà tham gia lực lượng Thanh niên xung phong, bám trụ các trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn qua miền Tây Quảng Ngãi để mở đường, lấp hố bom, vận chuyển lương thực và vũ khí. Trải qua những năm tháng mưa bom bão đạn, nhiều lần bị thương và mắc sốt rét rừng, bà vẫn kiên cường hoàn thành nhiệm vụ. Sau hòa bình, bà trở về quê, sống giản dị, không lập gia đình, dành phần lớn cuộc đời chăm lo gia đình, giúp đỡ thân nhân đồng đội và tích cực tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa tại địa phương.

Quảng Ngãi21/08/2026Trần Hoàng Phượng (Đoàn trường Đại học Phạm Văn Đồng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

  Căn nhà nhỏ của bà nội tôi – bà Trần Thị Mười, cựu nữ thanh niên xung phong từng bám trụ trọng điểm mở đường qua địa phận Quảng Ngãi – nằm yên bình bên bãi bồi sông Trà Khúc. Bà năm nay đã gần tám mươi, dáng người nhỏ nhắn, lưng bắt đầu còng và khuôn mặt hằn sâu những vết chim chim của thời gian. Mỗi lần thời tiết đổi mùa, những vết thương từ mảnh bom năm xưa lại khiến bà đau nhức, nhưng hễ nghe ai nhắc về một thời hoa lửa, ánh mắt đã mờ đục của bà lại sáng lên một sức sống kỳ lạ. Kỷ vật vô giá của bà không nằm trong tủ kính sang trọng, mà được bọc cẩn thận qua nhiều lớp vải cất dưới đáy rương: một chiếc khăn tay dệt vải thô đã sờn mép, trên góc khăn có thêu dòng chữ “Vững tin ngày về” bằng chỉ màu đỏ đã phai nhạt.

Chiếc khăn ấy là món quà của chú Hai – người thương của bà, một chiến sĩ vệ quốc quân quê ở Ba Tơ – trao tặng trước khi tiểu đội của chú lên đường vào chiến trường miền Tây Quảng Ngãi mùa thu năm 1970. Bà Mười kể, ngày ấy bà mới mười tám tuổi, là cô gái mở đường không quản đêm ngày gánh đá, lấp hố bom dưới cơn mưa đạn. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi giữa tiếng còi báo động rền sĩ và khói bom mù mịt chỉ đủ để chú dúi vào tay bà chiếc khăn tự tay thêu vụng về, cùng lời hẹn giản dị: “Hết chiến tranh, anh về dắt em qua cầu Trà Khúc”.

Thế nhưng, lời hẹn ấy mãi mãi dừng lại ở tuổi đôi mươi. Trong một trận càn quét dữ dội của địch nhằm cắt đứt tuyến đường tiếp viện, chú Hai đã cùng đồng đội dũng cảm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để giữ vững căn cứ. Tin báo tử gửi về đúng vào một chiều mưa rừng tầm tã. Lắng nghe tiếng súng rền xa xa, bà Mười nén đau thương, giấu chiếc khăn tay vào túi áo ngực ngay vị trí trái tim. Suốt những năm tháng gian khổ sau đó, chiếc khăn ấy trở thành kỷ vật thiêng liêng, tiếp thêm cho bà sức mạnh để kiên cường bám cầu, bám đường qua hàng trăm trận mưa bom bão đạn và vượt qua những cơn sốt rét rừng ngắt giật.

Sau ngày giải phóng, bà Mười trở về cuộc sống đời thường, chọn ở lại bãi bồi Trà Khúc, hằng ngày lặng lẽ vun vén cho từng luống rau, bãi mía bên dòng sông quê hương. Bà không lập gia đình, dành trọn phần đời còn lại để chăm sóc gia đình người đồng đội cũ và tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa tại địa phương. Chiếc khăn tay năm xưa vẫn được bà giặt giặt gấp gấp cẩn thận, dẫu màu chỉ đỏ đã phai nhưng lời thề năm xưa thì chưa bao giờ phai nhạt.

Trực tiếp nâng niu chiếc khăn sờn góc, lắng nghe từng lời kể rưng rưng của bà, tôi – một sinh viên đang sống trong những ngày tháng đất nước đổi mới – mới cảm nhận trọn vẹn sự đắt giá của hai từ "hòa bình". Tuổi trẻ của thế hệ bà Mười và chú Hai không có những mong ước cá nhân thung dung, mà gạt đi hạnh phúc riêng để gánh vác vận mệnh dân tộc. Câu chuyện về chiếc khăn tay thêu dở bên dòng Trà Khúc không chỉ là ký ức tình yêu thời chiến, mà còn là bài học sâu sắc nhắc nhở thế hệ trẻ chúng tôi về lòng biết ơn, trách nhiệm và khát vọng sống cống hiến cho quê hương hôm nay.

 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn