Bài viết

CHUYỆN TRÊN CHIẾN TRƯỜNG MIỀN NAM

Thông tin nhân chứng Họ và tên : Nguyễn Văn Hòe Năm sinh : 13/10/1958 Địa chỉ : Thôn Văn Ông Trung , xã Đông Vinh , huyện Đông Hưng , tỉnh Thái Bình ( nay thuộc xã Bắc Đông Quan , tỉnh Hưng Yên ) Năm 18 tuổi ông xung phong đi chiến đấu , thời gian huấn luyện ở ngoài Bắc là 10 tháng sau đó ông bắt đầu vào miền Nam là ngày 20 / 12 / 1974. Để chuận bị cho chiến dịch năm 1975, ông được bổ sung vào đơn vị 19 – vận tải của sư đoàn 2 đề phục vụ chiến đấu ( 3 – 1975 ). Giải phóng Buôn Ma Thuật, Gia La

Hưng Yên27/12/2025Lê Mai Phương Học sinh lớp : 10A5 Trường THPT Nam Đông Quan (xã Đông Quan)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau khi nhận được công văn của Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Hưng Yên và sự phát động của Đoàn trường về kế hoạch triển khai thực hiện đề án “ Câu chuyện thời hoa lửa ” em đã nhanh chóng tìm hiểu và sắp xếp thời gian đến gặp nhân chứng không chỉ để nghe ông kể về đất nước thời xưa mà còn là cơ hội để em học hỏi, trau dồi thêm cho mình về lòng biết ơn, sự tri ân với những con người bình thường nhưng lại làm được những điều không hề bình thường.

Ông Nguyễn Văn Hòe được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Thái Bình (cũ), đến giờ ông đã ở tuổi xế chiều – 67 tuổi nhưng ông vẫn mong muốn được chia sẻ và kể lại cho con cháu nghe về sự nghiệp cầm súng chiến đấu của mình, không chỉ để các cháu – giới trẻ ngày nay biết thêm về những trang sử hào hùng của dân tộc mà ông còn muốn các cháu hiểu để chạm tay đến 2 tiếng “hòa bình” các thế hệ như ông đã phải đánh đổi bằng thanh xuân tuổi trẻ, bằng máu xương cũng như mong các cháu bồi đắp thêm cho mình lòng biết ơn, sự tri ân đến những người đã ngã xuống qua câu chuyện mình kể, từ đó có ý chí, có động lực học tập nối nghiệp xây dựng đất nước.

Năm 18 tuổi – cái tuổi đầy ước mơ hòa bão, đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ ông đã xung phong nhập ngũ, ấp ủ trong mình khát vọng giải phóng dân tộc. Thời gian ông huấn luyện ngoài Bắc là 10 tháng, sau bắt đầu vào Nam là ngày 20 / 12 / 1974. Mới vào ông chỉ là chàng chiến sĩ tuổi xuân phơi phới, được hoạt động và gắn bó vs tiểu đội 4, trung đội 2, tiểu đoàn 19-vận tải, sư đoàn 2, quân khi 5 ( đơn vị : C9-D4-E38-F2-QK5 ). Để chuẩn bị cho chiến dịch năm 1975 , chiến đấu vào tháng 3/1975 ông được bổ sung vào đơn vị 19-vân tải của sư đoàn 2 với nhiệm vụ khuân vác đạn, vận tải vũ khí tiếp tế cho các đoàn đi trước để chiến đấu, giải phóng Buôn Ma Thuật, Gia Lai, Kon Tum sau đó cắt ngang đường một tiến đến giải phóng Đà Nẵng cuối cùng là giải phóng Sài Gòn thống nhất đất nước.

Nghe thì ngắn gọn nhưng thực tế những bước chân trên con đường chiến đấu của ông lại vô cùng khó khăn và gian truân. Thời ấy, từng bước đi, từng dấu chân in trên mặt đất được ông coi là “vô giá” bởi sự nguy hiểm và tàn khốc của chiến trường khiến ông càng thêm trân trọng những giá trị bình dị bên đồng đội, nhưng cũng không vì thế mà ông sợ hãi muốn bỏ cuộc. Ông hiểu tình hình lúc ấy, hiểu rằng vận mệnh đất nước đang nằm trong tay mình, hiểu được bản thân đang muốn gì – ý chí quyết tâm, kiên cường giành lại độc lập tự do cho đất nước. Ông coi việc “hi sinh” là một điều vinh dự và hơn hết là thấy “cao quý” vì xương thịt của mình được hòa vào đất mẹ, được cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ông kể thuở ấy hạt gạo rất quý, trên chiến trường chỉ được phân phát cho 9 cân gạo sấy để cả tiểu đội ăn trong 1 tháng, đổ nước vào ăn bo bo cho qua bữa, nhưng bên cạnh đó cũng có những đồng chí đói lả không đi được phải nhờ đồng đội cõng hay uống nước suối để qua cơn đói. Không những không có lương thực mà môi trường và hoàn cảnh sinh hoạt lúc ấy cũng vô cùng thiếu thốn, ông kể về những đêm trong rừng, những giấc ngủ với bao hiểm huy rình rập. Trong balo mỗi người lúc nào cũng có cái võng và con dao, vừa để thuận tiện cho quá trình di chuyển không bị cồng kềnh, vừa có thể bảo vệ bản thân ở một mức độ nào đó. Với ông khó khăn lớn nhất không chỉ là thiếu thốn lương thực mà còn là sợ bản thân mất ý chí, sợ bản thân sẽ bỏ cuộc. Nhưng ta đâu thể biết chỉ khi đối diện với khó khăn, thử thách, đối diện với sự an toàn của nhân dân và lớn hơn là sự tự do, độc lập của tổ quốc ta mới thấy tuổi trẻ thời chiến bản lĩnh, gan dạ và can trường đến nhường nào. Đáp lại ý chí rèn luyện, ông Nguyễn Văn Hòe được anh em trong đơn vị bầu và bổ nhiệm làm trung đội phó. Khi cầu vai lên cấp thượng sĩ cũng là lúc ông cảm nhận được sức nặng trên vai, cảm nhận được trách nhiệm mình phải gánh vác. Là người dẫn đường chỉ lối cho các anh em đi phía sau ông luôn xung phong đi trước, không sợ hãi, không bỏ cuộc, đặc biệt là không sợ chết. Ông tự nhủ mình phải mạnh mẽ, bởi lẽ nếu mình sợ thì ai sẽ là người dũng cảm đứng lên trước, nếu mình sợ tự hỏi liệu có xứng đáng với niềm tin mà anh em dành cho mình. Cao quý hơn là tình đồng chí đồng đội và tinh thần đoàn kết của cả tiểu đội, nhắc đến đồng đội như nhắc đến sự tiếc thương, chạm đến nơi sâu nhất của trái tim ông. Khi kể về đồng đội mình, ông không khỏi xúc động, đôi mắt rưng rưng, giọng cũng dần nghẹn lại bởi sự thương nhớ hòa với cảm xúc tiếc nuối của ông ở hiện tại về những người xấu số không may tử trận. “Cái chết nó đến bất ngờ, mình phải gạt nước mắt để bước tiếp”, đôi khi đồng đội bị thương ông cũng chỉ biết bất lực nhìn rồi tiếp tục hành quân tiến về phía trước, để đồng chí ấy ở lại phía sau cho đơn vị khác lên đưa về. Không có khoảng lặng để ông suy nghĩ, không có thời gian để ông tiếc thương và an ủi, dừng lại 1 giây như mở ra cái chết cho mình và những người khác, đạn bắn không ngừng, bom rơi cũng không thể biết trước. Anh em đồng thuận, chết cùng chết, sống cùng sống, ăn uống cùng nhau, đến giấc ngủ cũng giống nhau, gắn bó đồng hành như tri kỉ, không ai kêu than khi cõng đồng đội đã kiệt sức trên vai, không ai nói nhưng sâu thẳm trong tâm đều biết tất cả cùng có một lí tưởng, một đích đến, một mục tiêu khát vọng chờ ngày đất nước hòa bình. Đến bây giờ khi hồi tưởng lại cảm xúc của ông vẫn như ngày nào, rơi nước mắt không phải vì ông yếu đuối mà đó sự tưởng nhớ, lòng biết ơn ông muốn gửi đến những người đã mãi mãi nằm lại.

Năm 1978, chiến tranh biên giới Tây Nam bùng nổ cùng với đó là nhiệm vụ mới mà ông đảm nhận. Trong quá trình chiến đấu đến năm 1979 ông bị thương tại biên giới và đây cũng là 1 trong những kỉ niệm ông nhớ nhất trong nửa đời làm lính chiến đấu của mình. Cảm xúc ùa về như những thước phim được cài sẵn, theo lời kể của ông, khi bị thương ông được đưa trở về để chữa trị, ông nhớ mãi khoảnh khắc ấy: “lúc đấy sướng lắm, hạnh phúc lắm”. Miền Nam được giải phóng, ông sang Campuchia chiến đấu 3 năm, 3 năm trên đất khách quê người cho ông thấy được sự vất vả, khốn khổ của người lính cụ Hồ, cũng cho ông biết được giới hạn của bản thân, ý chí bất khuất, kiên cường như “cây tre” Việt Nam không cơn gió nào có thể quật ngã được.

Và hiện tại khi đất nước đã hòa bình, ông vẫn không thể quên được khoảnh khắc lúc ấy, niềm hạnh phúc, sung sướng hòa vào cùng tiếng vỗ tay, hò reo, háo hức của nhân dân. Nụ cười và giọt nước mắt cho sự tự hào, hãnh diện của ông khi đã hoàn thành nhiệm vụ : “giờ hỏi ông cảm xúc như nào cũng khó nói lắm, khó tả lắm, không từ nào có thể nói lên được sự háo hức với vui sướng, hạnh phúc của ông lúc đấy.” Bên cạnh sự vui sướng, ông còn tự hào vì khi về nước mình được thưởng huân huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì. Cuối cùng, ông chỉ muốn gửi đến giới trẻ ngày nay một thông điệp, một bài học hãy biết ơn vì mình được sống trong thời bình, hãy học tập tốt, không ngừng học hỏi, trau dồi, tôi luyện để lớn lên không chỉ làm đẹp cho đời mà còn để làm cán bộ, làm chủ đất nước, nối nghiệp gìn giữ lịch sử dân tộc, viết lên những trang sử hào hùng bằng trí tuệ, bằng lao động, bằng tri thức chứ không phải bằng máu xương như ông!!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn