Chuyện về anh hùng Phạm Tuân
VIẾT VỀ TRUNG TƯỚNG PHẠM TUÂN
rung tướng Phạm Tuân - người từng được phong Anh hùng tới 3 lần, từng bắn rơi B52, từng xuyên qua tầng khí quyển để chinh phục vũ trụ đã không nói gì nhiều về chiến tích hay những danh hiệu mà mình được nhận.
Trong căn nhà khang trang, sạch sẽ ở phố Cù Chính Lan, Hà Nội, Trung tướng Phạm Tuân trò chuyện với tôi như tâm sự với người thân. “Gia đình người lính đơn giản lắm. Đi lính, lấy vợ, chiến đấu biền biệt, sinh con, tiếp tục đi chiến đấu rồi về hưu”, vị Tướng mở đầu câu chuyện rất khiêm nhường. Những tưởng là… gặp khó, nhưng rồi ông khích lệ: Cứ hỏi đi, có gì sẽ nói đấy vì “người lính vốn chân chất mà”.
Với Anh hùng Phạm Tuân, ơn sinh thành của cha mẹ luôn tràn đầy trong ký ức. “Cha tôi ít nói nhưng can trường lắm. Ít nói, hay làm nên những lời ông dạy con, tôi thấm sâu lắm. Hồi mới học lớp 8 trường làng, cái lần tôi giúp ông bê đất, còn ông thì trồi sụp gieo mình ngụp xuống ao để vớt bùn. Tay vuốt lớp bùn lộ hai con mắt, cha nhìn tôi rồi nói: “Cố mà học đi con ạ! Cả làng có mỗi mình con được đi học, cố làm sao cho cha mẹ có ngày mở mày, mở mặt! Ở nhà làm ăn thì cũng được, nhưng thôi, đừng như cha”. Ông cụ thân sinh ra tôi là thế đấy, cái suy nghĩ của ông đã đưa tôi vượt qua lũy tre làng, băng qua những cánh đồng vàng miền quê lúa Thái Bình để đi đến với khoa học, với vũ trụ bao la” - Trung tướng Phạm Tuân nhớ lại.
Những măm 1969-1972, thời kỳ cao điểm đánh B52 cũng là lúc anh lính trẻ Phạm Tuân bặt tin với gia đình. Các cụ lo lắm. Lo đến nỗi dặn anh lính cùng làng khi lên Hà Nội cố tìm xem có tin gì về con mình không, sống, chết ra sao. Nhưng thời chiến trận, đất người bao la, ai biết đâu mà tìm, vậy là cha mẹ vẫn bặt tin con. Đêm 30 Tết năm 1972, sau chuyến bay vào Vinh và Thanh Hóa, ngày hôm sau Phạm Tuân được đơn vị cho nghỉ phép về quê ăn Tết. Chuyến về quê lần đó cũng gập ghềnh lắm kỷ niệm. Một mình một xe đạp lọc cọc từ sân bay Đa Phúc (Vĩnh Phúc) về Hà Nội. Ra tới bến xe thì hết vé, cuối cùng Phạm Tuân quyết định đạp xe về Thái Bình. Ba năm cách biệt, niềm vui như vỡ òa trong căn nhà nhỏ trong làng Quốc Tuấn. “Biết tôi về, cả làng đến đông lắm. Lúc hàng xóm về hết, ông cụ hỏi tôi: “Này con, người bắn rơi máy bay B52 có phải là con không. Báo đài đưa tin chỉ nói là phi công “Phạm T” quê ở Thái Bình. Nghe mà cha cứ ngờ ngợ, đúng hay không, nói để cha mừng. Trên dặn không được tiết lộ nhưng tôi không thể không cho cha mình biết và cũng chỉ nói một mình ông biết mà thôi. Mãi tới năm 1973, khi tôi được phong danh hiệu Anh hùng thì người dân quê lúa mới hay tin”. Tướng Tuân kể.
Tới năm 1975, khi biết con trai chuẩn bị lấy vợ, ông cụ tự tay đóng một chiếc giường cưới bằng ngỗ mít vườn nhà. Đóng xong ông chở đò dọc theo sông Hồng từ Thái Bình lên Hà Nội cho con. Năm 1976, khi vợ Phạm Tuân sinh con, cụ lại một mình gánh gà, gạo lên Hà Nội thăm con, cháu. Lên tới nơi thì hai vợ chồng Phạm Tuân đã về Đa Phúc, ông cụ lại tiếp tục gánh gạo đi tìm con. Lạ đường, lạ người, không tìm ra nhà thông gia cụ lại quảy gánh về Hà Nội. Nhưng đến hôm sau lai lục cục gánh gạo lên Đa Phúc quyết tìm con một lần nữa…
Tôi là người may mắn. Bắt đầu từ việc “trượt” thợ máy lên thành phi công, bắn rơi máy bay B52 rồi bay vào vũ trụ với tấm vé… “vớt”. Năm 1965 tôi vào binh chủng Không quân, sau đó được sang Liên Xô học. Lúc này tôi chỉ là một anh thợ máy không quân. Sau nhiều lần sàng lọc, các phi công không đủ sức khỏe lần lượt được thay thế. Thợ máy chính là nguồn bổ sung nhân lực đầu tiên và tôi đã được lựa chọn. Tại trường phi công quân sự Liên Xô, tôi được đào tạo cơ bản và trở thành phi công tiêm kích bay đêm bằng máy bay MIG 17. Sau này về nước tôi lại được chọn sang đôi bay MIG 21. Nguồn kiến thức để “bổ túc” cho tân binh MIG 21 chỉ vỏn vẹn là những cuốn sổ người lái máy bay của các phi công đi trước. Đây cũng có lẽ là những khóa học với loại giáo trình “đặc biệt” của Không quân. Khó khăn là vậy nhưng tôi đã làm tốt.
“Chuyến bay lịch sử đêm 18-12-1972 đã nói lên tất cả và cũng chính lần đó “vị thần” may mắn lại mỉm cười với tôi. Sau khi chặn tốp B52 đầu tiên vào Hà Nội, tôi quần nhau với nhiều tốp máy bay F4 đến khi chiếc MIG 21 hết nhiên liệu buộc phải hạ cánh. Đài chỉ huy sân bay Đa Phúc đã bị trúng đạn, toàn sân bay chìm vào bóng đêm. Không đèn chiếu, đường băng chi chít hố bom nhưng tôi vẫn quyết hạ cánh. Khi máy bay vừa tiếp đất thì gặp phải một hố bom, ngay lập tức tôi bung dù giảm tốc. Máy bay trượt trên sân bằng cánh rồi quay 180 độ mới dừng hẳn. Bình thường cánh, bụng máy bay chạm đất thường gây cháy nổ, ấy vậy mà chiếc MIG 21 đụng hẳn vào hố bom, trượt liểng xiểng trên đường băng bằng bụng và cánh lại bình an vô sự”.
“Năm 1977, tôi được cử đi học lại Học viện Không quân Gagarin. Năm 1979, mặc dù có vấn đề về tim nhưng tôi vẫn được chọn vào đội bay quốc tế cho… đủ quân số. Khi trải qua những thử nghiệm y khoa khắt khe, tôi lại trở thành ứng cử viên phi công số một cho biên đội bay vào vũ trụ. Lịch sử về những phi hành gia đầu tiên đặt chân lên vũ trụ ghi tên tôi từ đó.
May mắn, cụm từ có lẽ đã gắn bó với tôi từ lúc đặt chân vào quân ngũ cho tới ngày về hưu. Nhưng chỉ may mắn thôi chưa đủ. Cơ hội đều dành cho tất cả mọi người. Tôi tự hào vì chưa bao giờ phải “bon chen” để có được cơ hội. Tất cả đều đến với tôi một cách tự nhiên. Cái riêng ở tôi có lẽ chính là sự bản lĩnh, biết nắm bắt, tận dụng, khai thác tối đa những cơ hội mà số phận dành cho mình và biến nó thành những chiến tích lịch sử.
“Khi bay vào vũ trụ, tất cả tâm lực, trí lực của phi hành đoàn tập trung vào việc điều khiển con tàu nhằm hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Tuy vậy, có những lúc hình ảnh rrái đất thân yêu lại hiện lên trong tâm trí tôi. Con người khi ở trên vũ trụ như có một góc nhìn khác, không còn ranh giới địa lý, sắc tộc, màu da… Lúc đứng trên mặt đất, người ta hướng đến gia đình, còn khi ở trong vũ trụ bao la, người ta gửi gắm niềm thương, nỗi nhớ về trái đất – nơi có sông, có núi, có Tổ quốc, có đồng loại, có những ngôi nhà bé nhỏ mà người thân thương của ta đang trú ngụ…”.
Trung tướng Phạm Tuân sinh ngày 14/2/1947 tại xã Quốc Tuấn, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Năm 1965 nhập ngũ vào binh chủng Không quân.
Năm 1967, tốt nghiệp trường Phi công quân sự Liên Xô và được biên chế lái máy bay chiến đấu tại Trung đoàn Không quân Sao Đỏ.
Ngày 18/12/1972 bắn rơi máy bay B52, trở thành người đầu tiên bắn hạ được loại máy bay này từ trên không và trở về an toàn.
Năm 1973 được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang Nhân dân Việt Nam.
Năm 1977 học tại Học viện Không quân Gagarin.
Năm 1979 được chọn vào đội bay quốc tế Thứ Sáu.
Từ 23/7/1980 - 31/7/1980 thực hiện chuyến bay vào vũ trụ cùng đội bay quốc tế.
Năm 1980 được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động Việt Nam, Huân chương Hồ Chí Minh, cấp bậc Trung tá. Cùng năm này được tặng Huân chương Lênin và Anh hùng Liên Xô.
Năm 1982 tốt nghiệp Học viện Không quân Gagarin.
Năm 1988 là Phó tư lệnh Chính trị quân chủng Không quân.
Năm 1999 giữ chức Tổng Cục trưởng Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, quân hàm Trung tướng.
Năm 2008 Tướng Phạm Tuân nghỉ hưu.


