Bài viết

Chuyện về Anh hùng Trần Văn Lâm (1)

Gia Lai16/05/2026Ban Biên tập tổng hợp1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chuyện về Anh hùng Trần Văn LâmĐầu năm 2024, đoàn cán bộ Bảo tàng Quân khu 4 đến thăm Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Văn Lâm tại thị trấn Nga Sơn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá). Dù tuổi đã ngoài 70, đôi mắt ông vẫn sáng rực khi hồi tưởng về những tháng năm chiến đấu hào hùng. Trong câu chuyện của ông, không chỉ có những chiến công mà còn là những hiện vật sống động, minh chứng cho một thời kỳ của dân tộc, mà Bảo tàng Quân khu 4 may mắn được lưu giữ và giới thiệu đến công chúng.

Người lính công binh và những con đường xuyên qua mưa bom bão đạn Khi được hỏi về những kỷ niệm đặc biệt, đôi mắt Anh hùng Trần Văn Lâm ánh lên niềm tự hào: “Tôi sinh ra trong một gia đình có 5 anh em, bố và anh trai cả đều tham gia kháng chiến chống Pháp. Tiếp nối truyền thống gia đình, năm 1966, khi vừa mới 15 tuổi, tôi tình nguyện lên đường nhập ngũ vào Tiểu đoàn 96, Bộ Tư lệnh 500. Dù chưa đủ tuổi, nhưng với chí căm thù giặc, quyết tâm lên đường bảo vệ Tổ quốc, tôi đã khai thêm tuổi và nhét thêm đá vào quần áo để vượt qua kỳ kiểm tra sức khỏe”. Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Văn Lâm. Năm 1969 đến 1973, ông được điều động về Trung đoàn 83 Công binh cầu đường trực thuộc Cục Công binh (đơn vị tiền thân của Lữ đoàn Công binh 83 Hải quân ngày nay) làm nhiệm vụ mở đường và đảm bảo giao thông phục vụ chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên, Tây Nguyên, Quảng Nam, Đà Nẵng. Ông đã tham gia hàng chục trận đánh, phá hàng nghìn quả bom mìn. Mặc dù tuổi nhỏ, sức khỏe yếu nhưng ông luôn nêu cao quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, cùng với đồng đội đảm bảo giao thông thông suốt cho bộ đội chiến đấu. Năm 1970, 1971, khi nhận nhiệm vụ mở đường ở huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Đây là địa bàn có số lượng bom, mìn lớn, dù phải đối mặt với những hiểm nguy luôn rình rập nhưng bất kể trời nắng hay mưa, ngày, đêm ông và đồng đội cũng kiên trì bám đường, cẩn trọng dò gỡ từng centimet đất, không bỏ sót vị trí nào. Nhấp chén nước chè ông nói: “Cuộc đời tôi phải nói rất may mắn. Bởi, với người lính công binh chỉ cần sơ xuất nhỏ là có thể đánh đổi cả tính mạng của mình và đồng đội. Nhưng nếu bỏ sót một vị trí nhỏ cũng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của bộ đội khi hành quân, ảnh hưởng đến cuộc chiến...”. Không chỉ nêu cao tinh thần, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ mà ông Lâm đã có nhiều sáng kiến để nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Năm 1972, đơn vị được giao nhiệm vụ dò gỡ bom mìn để mở đường cho bộ binh tiến sâu vào trận địa chuẩn bị đánh chiếm quận lỵ ở Quế Sơn (nằm phía Tây thành phố Đà Nẵng). Tuyến đường này nằm cạnh con suối, ông đã đưa ra sáng kiến đắp đập ngăn suối, dùng sức nước đào và vận chuyến một khối lượng đất đá thay sức người. Sáng kiến của ông đã đưa năng suất lên 150%, giảm nhẹ sức người và an toàn lao động. Hay trong thực hiện nhiệm vụ, do điều kiện trang bị thiếu thốn, ông đã nghĩ ra phương pháp dùng thông nòng súng AK47 mài nhọn một đầu để thay thuốn dò mìn... Những sáng tạo của ông trong việc dò, gỡ bom mìn đã được đồng đội vận dụng, đảm bảo tuyến đường giao thông huyết mạch chi viện cho chiến trường miền Nam đánh giặc. Không chỉ trong thực hiện nhiệm vụ dò, gỡ mìn mà khi được giao nhiệm vụ nuôi quân, ông luôn có tinh thần trách nhiệm cao. Trong hoàn cảnh thực phẩm khan hiếm, ông đã tích cực khai thác thực phẩm bảo đảm cho đơn vị mỗi bữa ăn đều có 3-4 món, nóng. Có thời điểm đơn vị làm nhiệm vụ cách xa nơi trú quân 3-4km, ngày nào ông cũng gánh cơm ra tận nơi cho anh em ăn được nóng, nước uống đầy đủ. Có thời gian yêu cầu thông đường gấp, ban ngày lo cơm nước cho đơn vị, ban đêm ông lại tranh thủ ra làm đường với anh em liên tục hàng tháng trời... Ghi nhận những thành tích trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, ông Trần Văn Lâm đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba, 7 lần là Chiến sĩ thi đua, Chiến sĩ Quyết thắng. Đặc biệt, ngày 6 tháng 11 năm 1978, ông Trần Văn Lâm được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Kỷ vật thời chiến trận Trong căn nhà giản dị nhưng ấm áp của Anh hùng Trần Văn Lâm, đoàn công tác đã có cơ hội được chiêm ngưỡng những kỷ vật quý giá gắn liền với cuộc đời quân ngũ của ông. Giữa những hiện vật ấy, một chiếc võng dù màu xanh đã bạc màu, từng là vật bất ly thân của người anh hùng. Chiếc võng dù này, với đặc tính nhẹ, dễ gấp gọn được Trung đoàn 83 Công binh cầu đường trực thuộc Cục Công binh cấp phát cho ông Trần Văn Lâm vào năm 1968, trước thời điểm lên đường thực hiện nhiệm vụ rà phá bom mìn đầy cam go, chiếc võng đã cùng ông trải qua những năm tháng gian khổ nhất. Trong bối cảnh chiến trường khốc liệt, nơi bom đạn có thể trút xuống bất cứ lúc nào, việc tìm được một chốn nghỉ ngơi an toàn đã là một điều xa xỉ. Anh hùng Trần Văn Lâm thường tìm đến những khoảng rừng sâu, nơi những thân cây cổ thụ sừng sững vươn mình, để mắc chiếc võng dù của mình. Đó là những khoảnh khắc hiếm hoi để người lính trẻ tranh thủ hồi phục sức lực. Chiếc võng không chỉ che chở ông qua bao đêm sương gió mà còn là người bạn đồng hành thầm lặng, chứng kiến bao nỗi niềm, bao tâm sự của người lính trẻ giữa chiến trường ác liệt. Chiếc võng dù của Anh hùng Trần Văn Lâm. Khi đặt bàn tay lên mặt vải dù đã sờn cũ, Anh hùng Trần Văn Lâm bồi hồi nhớ lại: “Chiếc võng này rất có ý nghĩa với tôi. Cả thời thanh xuân bao gian khổ đều gắn với từng câu chuyện bên cánh võng, cả những lúc chiêm nghiệm về những khoảng lặng trong cuộc sống.” Lời tâm sự chân thành ấy như vẽ lại bức tranh sống động về những ngày mưa bom bão đạn. Mỗi vết sờn, mỗi đường kim mũi chỉ trên chiếc võng đều mang trong mình một câu chuyện, một kỷ niệm. Đó có thể là tiếng thở phào nhẹ nhõm sau một nhiệm vụ hoàn thành, là những lời động viên của đồng đội, hay là những đêm dài thao thức, suy tư về cuộc chiến, về ý nghĩa của sự hy sinh. Ngoài chiếc võng ra, hành trang của ông còn có những lá thư – những dòng chữ mộc mạc nhưng chan chứa tình yêu thương và niềm tin từ hậu phương. Trong đó, ông một bức thư mà ông luôn trân trọng nhất, lá thư từ người bố – ông Trần Văn Vọng gửi cho ông vào năm 1969. Trong thư có đoạn viết: “Phấn đấu gắng để báo công với Bác Hồ, người đã cho ta được độc lập tự do” đã tiếp thêm sức mạnh, là nguồn động viên to lớn giúp Anh hùng Trần Văn Lâm vượt qua mọi hiểm nguy nơi chiến trường. Nó nhắc nhở ông về mục tiêu cao cả của cuộc chiến, về trách nhiệm với non sông đất nước và về công ơn trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đối với người bố, tình yêu thương con không chỉ dừng lại ở lời động viên chiến đấu, mà còn là sự quan tâm sâu sắc đến tương lai của con sau chiến tranh. Những lời nhắn nhủ đầy tình phụ tử: “… Điều mong nhất của thầy là con kết hợp nhiệm vụ cố học thêm văn hoá mỗi năm 1 lớp kẻo chờ khi hoà bình về học thì khó theo kịp với hậu phương” đã thể hiện rõ nỗi lòng của bậc sinh thành dành cho đứa con nơi tiền tuyến. Lá thư của ông Trần Văn Vọng gửi cho con Trần Văn Lâm năm 1969. Chính nhờ những lời dạy quý báu ấy, trong những khoảnh khắc nghỉ ngơi hiếm hoi giữa rừng sâu, Anh hùng Trần Văn Lâm đã không ngừng học tập, ôn luyện văn hóa. Những con chữ nhọc nhằn, quý giá ấy được học giữa bom đạn và gian khổ, đã trở thành một phần hành trang không thể thiếu, bồi đắp thêm kiến thức, trí tuệ cho người chiến sĩ. Khi đối mặt với khó khăn, hiểm nguy, ông lại nhớ đến những dòng chữ thân thương ấy, như tiếp thêm sức mạnh từ tình yêu thương vô bờ bến của gia đình. Giờ đây, mỗi khi nhìn lại bức thư cũ, dù thời gian có làm nhòe đi nét chữ, Anh hùng Trần Văn Lâm vẫn cảm nhận rõ từng con chữ như còn vẹn nguyên hơi ấm của bố, thấm đẫm tình yêu thương vô hạn. Đó không chỉ là một bức thư, mà là một kỷ vật thiêng liêng, là lời nhắc nhở chân thành, không chỉ cho ông mà còn cho cả thế hệ trẻ hôm nay, về những giá trị cao đẹp, về sự hy sinh thầm lặng, về tình yêu đất nước mà lớp người đi trước đã truyền lại bằng cả trái tim và máu thịt. Khi trao lại những kỷ vật là chiếc võng cũ và bức thư cho Bảo tàng Quân khu 4, ông Trần Văn Lâm không chỉ gửi gắm một phần ký ức cá nhân, mà còn mong muốn thế hệ trẻ hôm nay sẽ hiểu hơn về những hy sinh thầm lặng, về những tháng năm gian khổ mà cha anh đã trải qua để đổi lấy nền độc lập, tự do cho dân tộc./.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn