CHUYỆN VỀ MỘT CỰU CHIẾN BINH
Câu chuyện kể về một chiến tranh ác liệt ở Quảng Trị
Câu chuyện thời hoa lửa - Chuyên một cựu chiến binh
Vào một buổi chiều, sau khi tan làm tôi đến ghé thăm nhà Ông Phan Văn Hữu quê ở xóm 9 Tây Giang, xã Mai Phụ, tỉnh Hà Tĩnh một người ông mà tôi kính trọng với dáng người hơi gầy nhưng chất phát của người lính năm xưa. Năm nay ông 78 tuổi đời, với 50 năm tuổi Đảng, gần 30 năm “nhìn đời” bằng đôi mắt giả, nhưng trái tim người lính Cụ Hồ vẫn luôn ấm áp với 50 năm tuổi Đảng để làm điểm tựa giữa đời thường.
Cựu chiến binh – Phan Văn Hữu
Như những chàng trai, cô gái tuổi đôi mươi cùng thế hệ, năm 1947, chàng thanh niên Phan Văn Hữu nhập ngũ và được biên chế vào Đoàn huấn luyện 22 quân khu 4 với nhiệm vụ hành quân vào Nam chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị - Cồ Tiên –Dốc Miếu – Khe Sanh năm 1969 bảo vệ bộ tư lệnh B5 quân khu 4.
Năm 1969, khi cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, chiến trường Cồn Tiên Dốc miếu, Khe Sanh, được mệnh danh là “mắt thần” của miền Bắc trở thành mục tiêu đánh phá của máy bay, tàu chiến Mỹ. Để bảo vệ “mắt thần”, Bộ chỉ huy mặt trận B5 được lệnh cử một trung đội đến Cồn Tiên -Dốc Miếu- Khe Sanh tham gia tiêu diệt xe tăng của địch.
Lúc này, hàng ngày máy bay L19 máy bay trinh sát thăm dò lực lượng của ta nhằm tiêu diệt quân giải phóng, quân ta dùng pháo 12ly7 đánh trả. Đây nhiệm vụ rất gian khổ và hiểm nguy nhưng ai cũng mong được đến Cồn Tiên -Dốc Miếu- Khe Sanh để tham gia chiến đấu. Để “cạnh tranh” cùng các đơn vị khác, tôi là Khẩu đội trưởng pháo cùng anh em tổ chức bảo đảm bí mật để tiêu diệt dịch. Với lòng quyết tâm cao của chúng tôi đã được tiểu đoàn Nguyễn Viết Xuân chỉ huy, ông Hữu nhớ lại.
Và đêm mùa hè tháng 7/1969, giữa muôn trùng sóng gió và sự bao vây của máy bay địch trên không, Khẩu đội của chúng tôi dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn bắn rơi máy bay trinh sát của địch và đẩy lùi các đợt tấn công của địch để bảo vệ an toàn trận địa, làm hậu thuẩn cho bộ binh tiến vào các căn cứ của địch. Mùa hè năm đó bắn rơi 3 máy bay, tiêu diệt nhiều xe tăng của địch. Dưới mưa bom bão đạn, không sờn lòng có khi không còn một bóng cây, mặt đất bị cày đi xới lại thậm chí có máy bay B52 rải thảm nhưng với tinh thần đoàn kết quyết tâm xây dựng và bảo vệ lực lượng chặt chẽ chúng tôi với tinh thần quyết chiến luôn sẳn sàng chiến đấu. Vừa chiến đấu, tôi và đồng đội vừa đào công sự, hầm hào. Có những thời điểm ác liệt, tiếp tế nhu yếu phẩm từ Bắc vào Nam gián đoạn, họ phải sống cầm hơi, chặt chuối rừng vắt nước uống. Người lính này hy sinh, người lính khác xông lên thay thế. Nhiều đồng đội của tôi đã ngã xuống và thân xác mãi nằm lại trên chiến trường Quảng Trị.
“Sau này, tôi nghe lịch sử thống kê lại từ năm 1964-1969, có trên 1,3 vạn quả bom và hàng vạn quả rốc két ném xuống Quảng Trị; Bình quân mỗi cán bộ, chiến sĩ hứng chịu gần 40 tấn bom đạn và mỗi ha đất là 22,6 tấn”. Còn lúc đó, chúng tôi chỉ biết ngày nào cũng bom rơi đạn nổ. Quảng Trị- Dốc Miếu- Cồn Tiên- Khe Sanh vô cùng ác liệt, nhưng phía sau chúng tôi có cán bộ, nhân dân Vĩnh Linh anh hùng, tình nghĩa sẵn sàng xung phong tiếp tế cho đơn vị nên chúng tôi càng đánh càng phát triển lực lượng.
Mùa xuân năm 1968, ông nhập ngũ và huấn luyện 3 tháng tại Nghĩa Hội, Nghĩa Đàn, Nghệ An được vào đội pháo binh. Sau khi huấn luyện xong chúng tôi hành quân bộ từ quê Bác đi vào Vĩnh Linh- Quảng Trị, đi theo đường Trường Sơn vượt qua hàng trăm cây số, khoảng 3 tháng mới vào đến Quảng Trị, vào mặt trận B5 được biên chế vào tiểu đoàn pháo binh để tham gia tiêu diệt máy bay bay thấp và tiêu diệt máy bay Mĩ với mục tiêu chặn đứng đường tiếp viện của địch lên chiến trường Khe Sanh, đánh chặn xe tăng địch ở Khe Sanh, đánh sập hầm địch ở Cồn Tiên – Dốc Miếu, nhằm hỗ trợ bộ binh tiến lên đánh địch, … những sự kiện vang dội được ông kể lại một cách giản dị. Tháng 8/1969, khi là Khẩu đội trưởng Tiểu đoàn 14, Quân khu 4, trong một chuyến trinh sát trận địa ở phía Tây Vĩnh Linh để chống địch đổ bộ bằng đường không, ông bị vướng bom nổ chậm, chiến sĩ liên lạc đi cùng hy sinh tại chỗ còn ông bị hất tung và bị thương nhẹ...
Điểm tựa giữa đời thường
Vào năm 1973 ông gặp cô gái cùng quê Hà Tĩnh, vì cảm phục và yêu quý chàng trai Hà Tĩnh anh hùng, chất phác nên đã nhận lời yêu và làm vợ người lính. Năm 1973, cô gái Hà Tĩnh cùng ông trở lại quê nhà và sống cuộc đời bình dị.
Phần lớn hồi ức của cựu chiến binh Phan Văn Hữu là về đồng đội. Đó là những câu chuyện về Quảng Trị - Cồn Tiên – Dốc Miếu – Khe Sanh khói lửa ông chia sẻ.
Tri ân và nhớ thương đồng đội, tự hào về quá khứ, tin tưởng ở tương lai, ông tỏa ra thứ năng lượng ấm áp, thiện lương và chân thành. Nghe ông kể chuyện, nỗi xúc động, tự hào về quá khứ của quê hương, của các thế hệ cha anh, cứ trào lên…
Cuộc đời bi tráng và giản dị của ông Phan Văn Hữu và những đồng đội của ông, như câu thơ của nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm viết:
Đêm ấy đêm trăng qua phà Long Đại
Bom nổ chậm rình hai ở hai đầu bãi
Pháo sáng lập lờ vòng quanh
Trời khuya rồi xuống bến đi anh
Nước Nhật Lệ khuya rồi nơi âm ấm
Tiếng côn trùng kêu làm đêm đi rất chậm
Càng hay cho những chuyến phà sang.
Họ tên: Phạm Thị Trang- Trường Tiểu học Thạch Châu- Mai Phụ - Hà Tĩnh


