Bài viết

Chuyện về một người lính Lê Dương trở thành Bộ đội Cụ Hồ (phần 2)

Chuyện về một người lính Lê Dương trở thành Bộ đội Cụ Hồ (phần 2)

Tuyên Quang14/08/2026Trinh Thông (Bắc Ruộng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đầu năm 1943, một sự kiện đặc biệt quan trọng đã diễn ra “đánh dấu một mốc quyết định của chặng đường đẹp nhất đời mình”. Đó là, một binh nhì người Đức tên là “Éc-uyn Boóc-sơ” (Erwin Borchers) sinh năm 1906, ở Xtơ-rát-xbua (Strasbourg, Pháp) đã bắt được liên lạc với cán bộ binh vận của Việt Minh và nhận nhiệm vụ tuyên truyền vận động bạn đồng ngũ cùng chống phát xít Nhật. “Éc-uyn Boóc-sơ” lấy bí danh Việt Nam là “Chiến sỹ”.

Nhân cốt của “Nhóm chống phát xít trong Trung đoàn Lê dương 5 è R.E.I” khá đông, được thành lập ngay sau đó ở trại lính Lê dương Việt Trì, trong đó có bộ ba hoạt động rất tích cực theo sự hướng dẫn của Việt Minh. Ngoài “Chiến Sỹ” (Erwin Borchers), người Đức, còn có trung sỹ nhất “Nguyễn Dân” (Ernst Frey), người Áo và trung sỹ “Nguyễn Dậu” (Gootwall), người Tiệp. Được sự đồng ý của Đảng ta, ba bọn mình đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông dương và Chi bộ Đảng bí mật trong Trung đoàn 5, lính Lê Dương (R.E.I.) được thành lập. “Chiến sỹ” là Bí thư chi bộ.

Đầu năm 1944, Tổng Bí thư Trường Chinh đã giới thiệu đồng chí Trần Quốc Hương bắt liên lạc với mình và thông qua mình bắt mối với “Chiến Sỹ”. Cuối năm 1944, đồng chí Trường Chinh đã bí mật gặp “Chiến Sỹ” ở làng Vẽ (ngoại thành Hà Nội), bàn việc tiếp xúc với nhóm bọn mình. “Chiến Sỹ” (Erwin Borchers) nhận nhiệm vụ tiếp xúc với Ca-puýp (Caput là thư ký Đảng xã hội Pháp “SFIO, chi nhánh Bắc Đông Dương”).

Ngày 9/3/1945, Nhật làm đảo chính lật Pháp ở Đông Dương, quân Pháp đớn hèn, đã đầu hàng vô điều kiện. Hầu hết binh lính Pháp ở Đông Dương bị bắt, bị tước vũ khí và đưa về trại tù binh của Nhật ở Xuân Mai. Chiến sỹ và mình cùng chung số phận. Ngày 16/9/1945, Chiến sỹ và mình cùng với một người lính Đức tên là Xơ-roi-đơ (Schroeder) trốn khỏi trại về tòa soạn báo Cờ Giải phóng cơ quan của Đảng Cộng sản Đông Dương, khi đó đóng ở phố Hàng Bồ. Cả ba bọn mình được phân công tham gia biên tập mấy tờ báo nước ngoài.



Chụp ảnh cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Võ Nguyên Giáp năm 1948 (Nguyễn Dân đội mũ, đứng thứ 6 từ phải sang), cụ Đào Văn Trường đứng thứ 4 từ phải sang). Ảnh tư liệu BTLSQSVN.

Quân Pháp gây hấn ở Nam Bộ, mình xung phong lên đường Nam tiến, với cái tên mới Hồ Chí Dân. Vào tới chiến trường miền Nam, mình lại may mắn được làm việc với đồng chí Nguyễn Sơn và với cậu.”

Cuối năm 1946, tôi được điều về Bộ Tổng tham mưu, phụ trách tác chiến. Hồ Chí Dân về nhận công tác huấn luyện ở Bộ Tổng tham mưu. Về Bộ Tổng tham mưu một thời gian, Hồ Chí Dân được giao nhiệm vụ nghiên cứu cách đánh cơ giới địch. Đầu tháng 3/1947, một tin vui bay về Bộ Tổng tham mưu: Lần đầu tiên quân ta dùng súng bazôka bắn cháy hai xe tăng địch ở So, khi chúng hành quân càn quét Hà Đông. Trong chiến công này có đóng góp của Hồ Chí Dân bởi anh là người huấn luyện cho bộ đội bảo vệ Chiến khu 2 cách bắn xe tăng địch.

Hồ Chí Dân (Ernst Frey) được sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Trường Chinh, được tin cậy giao cho trọng trách Chỉ huy trưởng Trung đoàn 15, đơn vị bảo vệ ATK, khu vực có Trung ương Đảng, Chính phủ và Bộ Tổng tư lệnh đóng quân ở Việt Bắc.

Ngày 12/6/1947, Chính phủ ra Sắc lệnh số 55 cho phép Hồ Chí Dân nhập quốc tịch Việt Nam.

Bẵng đi một thời gian khá lâu, một hôm, Hồ Chí Dân đột nhiên đến thăm tôi ở nhà riêng gần khu vực đóng quân của Bộ Tổng tham mưu. Đồng chí xuống ngựa, “lộp cộp” đi vào. Tôi cũng vội vã chạy ra đón tiếp. Hai đứa thân thiết ôm hôn nhau, tôi bỗng đẩy “cụ bạn” ra xa, ngơ ngác nhìn “cụ bạn”, “chính quy” từ đầu tới chân. Trên khổ người to cao của Hồ Chí Dân là bộ quần áo ka ki mới tinh. Một chiếc mũ ca-lô là thẳng nếp, đội lệch, có sao vàng lấp lánh. Ở giữa rừng núi Việt Bắc âm u này, không biết đồng chí kiếm đâu ra được một đôi ghệt (giày cao cổ) thực sự của nhà binh, còn mới, được đánh xi bóng loáng, trên gót, mé sau, còn cả “đinh thúc ngựa”, cứ như là “kỵ binh đi duyệt” vậy.

Hồ Chí Dân vỗ vai tôi, cười lớn:

- “Cậu” có biết không? Mình đã được Đảng, được Bác Hồ, được Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp phong “Đại tá” rồi… Còn bộ đồ mới tinh này toàn là “chiến lợi phẩm”. Anh em góp nhặt, về họp mỗi người tặng cho một chiếc, trừ mũ ca lô có sao vàng là của quân nhu mới phát.

Trong bộ quân phục ấy, Hồ Chí Dân là một trong đại biểu dự Hội nghị Quân huấn toàn quân tháng 5/1949, tại Định Hóa, Thái Nguyên. Anh là người đứng đầu trong bức ảnh, sau đó là Vương Thừa Vũ, Trần Đăng Ninh, Tạ Xuân Thu, Hiếu “kính và tôi (đứng khoanh tay) cùng một số đồng chí khác đang nghe Bác Hồ nói chuyện. Người mặc bộ đồ nâu, tay khoác mũ, khuôn mặt hiền từ, mắt sáng, râu, tóc còn đen nhánh... Anh Giáp còn trẻ, tinh anh và sung sức. Còn bọn tôi “Những người lính Bộ đội Cụ Hồ” ngày ấy, đều còn rất trẻ và khỏe. Có thể nói họ đại diện cho một thế hệ thanh niên cách mạng, đã được rèn luyện, thử thách. Nhưng trên hết, có giá trị lịch sử hơn hết, nói lên lý tưởng Cộng sản chủ nghĩa cao đẹp, nói lên tình và nghĩa sâu nặng giữa những “Người Cộng sản quốc tế” với Cách mạng Việt Nam.

Ngày 4/11/1949, Hồ Chí Dân được Bộ Quốc phòng cấp “chứng minh thư đặc biệt số 74/QP”. Sau đó, anh được cử vào Liên khu 4, làm “Khu phó” cho tướng Nguyễn Sơn. Tháng 5/1950, Hồ Chí Dân được Nhà nước ta cho hồi hương. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tấm thiếp bằng tiếng Pháp do đồng chí Trường Chinh trực tiếp trao cho Hồ Chí Dân với nội dung:

Đồng chí Nguyễn Dân thân mến,

Tôi tiếc không thể bắt tay đồng chí trước khi đồng chí lên đường. Tôi tin rằng, ở đây cũng như ở bất cứ nơi nào, đồng chí sẽ làm hết sức mình để phục vụ lý tưởng của chúng ta.

Hồ Chí Minh

Tôi chúc đồng chí lên đường bình an và mạnh khỏe

28.5.50

Kể từ đó, chúng tôi không gặp nhau nhưng trong tôi hình ảnh đêm chia tay, dưới trăng, bóng dáng to cao của người “đồng chí quốc tế” thân thiết, nghễu nghện ngồi trên con ngựa quá bé của địa phương, tun hút mờ dần trong bóng rừng cây rậm rạp. Một tình cảm sâu lắng, một ý nghĩ thân thương luôn rộn lên trong lòng tôi. Thật vậy! Có Đảng, có Bác Hồ, có lý tưởng Cộng sản cao đẹp, chúng tôi, ở hai chân trời xa cách, kể có vạn dặm, mới có thể thành đồng chí, thành bạn chiến đấu “chí cốt” của nhau./.

(Hết)

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn