Chuyện về một người lính thời ấy - bây giờ
CHUYỆN VỀ MỘT NGƯỜI LÍNH THỜI ẤY - BÂY GIỜ
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có biết bao chiến sỹ là con em các dân tộc của tỉnh Bắc Kạn đã hăng hái lên đường chiến đấu, kết thúc chiến tranh trở về với quê hương, họ là tấm gương sáng trong cuộc sống hằng ngày cũng như đi đầu trong mặt trận phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Ông Nguyễn Đình Quỳnh, ở bản Thôm Bó, xã Bình Văn, huyện Chợ Mới là một người như thế.
Ông Nguyễn Đình Quỳnh tích cực tham gia phát triển kinh tế hộ gia đình.Vào một chuyến công tác gần đây, chúng tôi có mặt tại ngôi nhà sàn truyền thống của ông Quỳnh - một CCB bị nhiễm chất độc màu da cam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Biết chúng tôi muốn tìm hiểu về những ký ức một thời của ông, ông cười bảo: “tôi có gì đâu mà viết, có đóng góp gì được nhiều cho Tổ quốc đâu…”. Nhưng khi chúng tôi hỏi ông về quãng thời gian tham gia quân ngũ, gương mặt ông bỗng trở nên sôi nổi, ông kể nhiều kỷ niệm chiến đấu của quãng đời binh nghiệp, với tinh thần “đâu có giặc là ta cứ đi".Năm 18 tuổi, chàng thanh niên Quỳnh đang theo học ở trường cấp II Chợ Mới (lúc đó chỉ có trường cấp II). Cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ bước sang giai đoạn ác liệt, vào năm 1962, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, ông Quỳnh cùng bao thanh niên khác của tỉnh Bắc Kạn đã lên đường ra mặt trận. Đầu tiên ông đóng quân tại Quân khu I (Việt Bắc), đến năm 1964 ông được cử đi học ở trường sửa chữa Thông tin (Bộ quốc phòng), đóng tại Thanh Hóa, một năm sau ông được đơn vị cử đi học tại thành phố BaKu của nước Nga 18 tháng (chuyên về binh chủng tên lửa).Khi trở về nước, ông đóng quân tại Trung đoàn 275, Sư 367 thuộc Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân bảo vệ tuyến đường 5 Hà Nội – Hải Phòng và tuyến đường 6 Hà Nội – Hòa Bình. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968 ông Quỳnh cũng có mặt tại thành phố Vinh – Nghệ An làm nhiệm vụ (lúc đó ông thuộc quân số của Trung đoàn cơ động Bộ quốc phòng), đến năm 1969 ông lại trực tiếp ra chiến trường chiến đấu, đóng quân ở cửa khẩu Lao Bảo – sau đó vào Đông Hà, tỉnh Quảng Trị và trải qua nhiều chiến trường khác mà đến nay ông Quỳnh cũng không nhớ nổi.Đến năm 1973 ông trở ra Bắc, vì sức khỏe nên đến năm 1974 ông phục viên xuất ngũ về địa phương. Nhớ lại một thời chiến đấu oanh liệt, có nhiều khi nhìn đồng đội mình ngã xuống bên cạnh mà không thể tiễn chào lần cuối, nhưng ông và nhiều đồng đội khác đã nén đau thương để vững chắc tay súng trước giặc thù. Nói đến đồng đội, ông Quỳnh lại ngồi buồn, trầm ngâm nhìn vào một khoảng không xa xăm. Ông bảo thật may mắn là mình vẫn còn được trở về với quê hương, những đồng đội đã ngã xuống vẫn mãi sống trong trái tim ông. Chính vì vậy, sau khi trở về địa phương ông đã hăng hái đi đầu trong mọi phong trào, góp sức xây dựng quê hương, xây dựng Tổ quốc. Đầu tiên ông tham gia HTX, rồi Phó Chủ tịch UBND xã, Bí thư chi bộ, tổ Đảng và Chi hội trưởng Hội CCB, đến nay là Chi hội trưởng Hội người cao tuổi.Thời ấy, ruộng đất cha ông để lại không nhiều, nên ông đã vào đồi Pá Danh để làm trang trại. Qua hơn 10 năm ông đã khai phá được 3.0002 ruộng để trồng lúa và trồng màu, bên cạnh đó ông còn trồng cây ăn quả, trồng cây lâm nghiệp, trồng chè, hồi, chăn nuôi lợn, gà, đào ao thả cá. Ông cũng là người đầu tiên mua máy xay xát về phục vụ cho bà con dân bản, đến khi bà con có máy xay xát nhiều thì ông lại chuyển sang đầu tư mua máy quay chè (sao chè). Với số vốn hơn 10 triệu đồng, ông đã sao chè thuê cho cả xã, có những lúc ông đã thức đến nửa đêm để sao chè cho bà con. Nguồn thu nhập của gia đình từ chăn nuôi, trồng trọt, sao chè... mỗi năm được khoảng 50 đến 60 triệu đồng.Ông Quỳnh cũng như nhiều bà con nông dân khác tại địa phương mong mỏi Nhà nước có cơ chế hỗ trợ để chè Bình Văn có đầu ra ổn định, hình thành vùng sản xuất chè tập trung, có thương hiệu để giúp bà con quê hương ông xóa đói giảm nghèo, vươn lên có cuộc sống ổn định lâu dài từ cây chè.Đồng chí Ma Văn Hiệp - Chủ tịch Hội CCB xã Bình Văn cho biết: “Ông Quỳnh là một trong những CCB tiêu biểu của địa phương, mặc dù tuổi đã cao và bị ảnh hưởng của chất độc màu da cam, nhưng ông luôn là người gương mẫu đi đầu, nhiệt tình tham gia các phong trào của Hội, đặc biệt là về phong trào phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Ông còn là một tấm gương sáng về đạo đức, lối sống, tinh thần lao động sản xuất để các hội viên khác học tập và làm theo”. Ghi nhận những đóng góp của ông, năm 2009 ông Quỳnh vinh dự được đi dự Hội nghị biểu dương già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng dân cư và được UBND tỉnh Bắc Kạn tặng bằng khen về công tác này. Hiện nay, các con của ông đã lập gia đình và đông đủ con cháu, cuộc sống của ông thật bình dị. Với vai trò là một người chồng, một người cha và một người ông, đặc biệt với phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, ông Quỳnh luôn răn dạy các con các cháu phải chấp hành tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phải có nghị lực vượt qua mọi khó khăn thử thách để công hiến sức mình cho xã hội, xứng đáng với những gì các anh đã anh dũng hy sinh vì độc lập tự do cho Tổ quốc.Người CCB vùng cao Nguyễn Đình Quỳnh năm nay đã bước sang tuổi 70, với 45 tuổi Đảng, dáng người nhỏ bé, lưng đã dần còng đi nhưng ý chí và nghị lực của ông thật đáng khâm phục. Ông đã vượt lên mọi khó khăn để sống, để công hiến, để ghi công ơn của các thế hệ đã đóng góp công lao to lớn cho cách mạng, cho quê hương. Ông thực sự là một tấm gương sáng cho con cháu và cả thế hệ trẻ noi theo./.
Ông Nguyễn Đình Quỳnh tích cực tham gia phát triển kinh tế hộ gia đình.Vào một chuyến công tác gần đây, chúng tôi có mặt tại ngôi nhà sàn truyền thống của ông Quỳnh - một CCB bị nhiễm chất độc màu da cam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Biết chúng tôi muốn tìm hiểu về những ký ức một thời của ông, ông cười bảo: “tôi có gì đâu mà viết, có đóng góp gì được nhiều cho Tổ quốc đâu…”. Nhưng khi chúng tôi hỏi ông về quãng thời gian tham gia quân ngũ, gương mặt ông bỗng trở nên sôi nổi, ông kể nhiều kỷ niệm chiến đấu của quãng đời binh nghiệp, với tinh thần “đâu có giặc là ta cứ đi".Năm 18 tuổi, chàng thanh niên Quỳnh đang theo học ở trường cấp II Chợ Mới (lúc đó chỉ có trường cấp II). Cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ bước sang giai đoạn ác liệt, vào năm 1962, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, ông Quỳnh cùng bao thanh niên khác của tỉnh Bắc Kạn đã lên đường ra mặt trận. Đầu tiên ông đóng quân tại Quân khu I (Việt Bắc), đến năm 1964 ông được cử đi học ở trường sửa chữa Thông tin (Bộ quốc phòng), đóng tại Thanh Hóa, một năm sau ông được đơn vị cử đi học tại thành phố BaKu của nước Nga 18 tháng (chuyên về binh chủng tên lửa).Khi trở về nước, ông đóng quân tại Trung đoàn 275, Sư 367 thuộc Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân bảo vệ tuyến đường 5 Hà Nội – Hải Phòng và tuyến đường 6 Hà Nội – Hòa Bình. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968 ông Quỳnh cũng có mặt tại thành phố Vinh – Nghệ An làm nhiệm vụ (lúc đó ông thuộc quân số của Trung đoàn cơ động Bộ quốc phòng), đến năm 1969 ông lại trực tiếp ra chiến trường chiến đấu, đóng quân ở cửa khẩu Lao Bảo – sau đó vào Đông Hà, tỉnh Quảng Trị và trải qua nhiều chiến trường khác mà đến nay ông Quỳnh cũng không nhớ nổi.Đến năm 1973 ông trở ra Bắc, vì sức khỏe nên đến năm 1974 ông phục viên xuất ngũ về địa phương. Nhớ lại một thời chiến đấu oanh liệt, có nhiều khi nhìn đồng đội mình ngã xuống bên cạnh mà không thể tiễn chào lần cuối, nhưng ông và nhiều đồng đội khác đã nén đau thương để vững chắc tay súng trước giặc thù. Nói đến đồng đội, ông Quỳnh lại ngồi buồn, trầm ngâm nhìn vào một khoảng không xa xăm. Ông bảo thật may mắn là mình vẫn còn được trở về với quê hương, những đồng đội đã ngã xuống vẫn mãi sống trong trái tim ông. Chính vì vậy, sau khi trở về địa phương ông đã hăng hái đi đầu trong mọi phong trào, góp sức xây dựng quê hương, xây dựng Tổ quốc. Đầu tiên ông tham gia HTX, rồi Phó Chủ tịch UBND xã, Bí thư chi bộ, tổ Đảng và Chi hội trưởng Hội CCB, đến nay là Chi hội trưởng Hội người cao tuổi.Thời ấy, ruộng đất cha ông để lại không nhiều, nên ông đã vào đồi Pá Danh để làm trang trại. Qua hơn 10 năm ông đã khai phá được 3.0002 ruộng để trồng lúa và trồng màu, bên cạnh đó ông còn trồng cây ăn quả, trồng cây lâm nghiệp, trồng chè, hồi, chăn nuôi lợn, gà, đào ao thả cá. Ông cũng là người đầu tiên mua máy xay xát về phục vụ cho bà con dân bản, đến khi bà con có máy xay xát nhiều thì ông lại chuyển sang đầu tư mua máy quay chè (sao chè). Với số vốn hơn 10 triệu đồng, ông đã sao chè thuê cho cả xã, có những lúc ông đã thức đến nửa đêm để sao chè cho bà con. Nguồn thu nhập của gia đình từ chăn nuôi, trồng trọt, sao chè... mỗi năm được khoảng 50 đến 60 triệu đồng.Ông Quỳnh cũng như nhiều bà con nông dân khác tại địa phương mong mỏi Nhà nước có cơ chế hỗ trợ để chè Bình Văn có đầu ra ổn định, hình thành vùng sản xuất chè tập trung, có thương hiệu để giúp bà con quê hương ông xóa đói giảm nghèo, vươn lên có cuộc sống ổn định lâu dài từ cây chè.Đồng chí Ma Văn Hiệp - Chủ tịch Hội CCB xã Bình Văn cho biết: “Ông Quỳnh là một trong những CCB tiêu biểu của địa phương, mặc dù tuổi đã cao và bị ảnh hưởng của chất độc màu da cam, nhưng ông luôn là người gương mẫu đi đầu, nhiệt tình tham gia các phong trào của Hội, đặc biệt là về phong trào phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Ông còn là một tấm gương sáng về đạo đức, lối sống, tinh thần lao động sản xuất để các hội viên khác học tập và làm theo”. Ghi nhận những đóng góp của ông, năm 2009 ông Quỳnh vinh dự được đi dự Hội nghị biểu dương già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng dân cư và được UBND tỉnh Bắc Kạn tặng bằng khen về công tác này. Hiện nay, các con của ông đã lập gia đình và đông đủ con cháu, cuộc sống của ông thật bình dị. Với vai trò là một người chồng, một người cha và một người ông, đặc biệt với phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, ông Quỳnh luôn răn dạy các con các cháu phải chấp hành tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phải có nghị lực vượt qua mọi khó khăn thử thách để công hiến sức mình cho xã hội, xứng đáng với những gì các anh đã anh dũng hy sinh vì độc lập tự do cho Tổ quốc.Người CCB vùng cao Nguyễn Đình Quỳnh năm nay đã bước sang tuổi 70, với 45 tuổi Đảng, dáng người nhỏ bé, lưng đã dần còng đi nhưng ý chí và nghị lực của ông thật đáng khâm phục. Ông đã vượt lên mọi khó khăn để sống, để công hiến, để ghi công ơn của các thế hệ đã đóng góp công lao to lớn cho cách mạng, cho quê hương. Ông thực sự là một tấm gương sáng cho con cháu và cả thế hệ trẻ noi theo./.


