Chuyện về Nam Phương Hoàng hậu
Với nhan sắc “khuynh nước khuynh thành” cùng khí chất hơn người, Nam Phương Hoàng hậu được xem là “độc nhất vô nhị” bởi, dưới triều Nguyễn, bà là: Người duy nhất được phong Hoàng Hậu khi còn sống; Hoàng hậu duy nhất mang quốc tịch nước ngoài; Hoàng hậu duy nhất theo đạo Thiên chúa và cũng là Hoàng hậu cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.
Nam Phương Hoàng hậu tên thật là Nguyễn Hữu Thị Lan, sinh ngày 14/12/1914 tại Gò Công (Tiền Giang) trong một gia đình giàu có bậc nhất Việt Nam đầu thế kỷ XX.Dù mang gốc gác Nam Bộ, bà lại sở hữu quốc tịch Pháp với tên khai sinh là Mariette Jeanne. Năm 12 tuổi, Nguyễn Hữu Thị Lan sang Pháp, theo học một ngôi trường danh tiếng tại Paris. Bà chỉ trở về nước sau khi đã tốt nghiệp tú tài toàn phần năm 1932.Hơn một năm sau, Nguyễn Hữu Thị Lan gặp vua Bảo Đại tại Đà Lạt qua sự sắp xếp của chính quyền Pháp. Vẻ đẹp hiền thục của bà để lại ấn tượng sâu sắc với nhà vua, song cuộc hôn nhân gặp nhiều phản đối do bà theo Công giáo.Bất chấp những ý kiến trái chiều, hôn lễ vẫn được tổ chức tại Huế vào ngày 20/3/1934. Ngay sau lễ cưới, Nguyễn Hữu Thị Lan được tấn phong Hoàng hậu tại điện Dưỡng Tâm với tước hiệu Nam Phương Hoàng hậu, trở thành người vợ duy nhất của vua Bảo Đại được phong Hoàng hậu khi nhà vua còn tại vị.Đây là một trường hợp đặc biệt trong lịch sử triều Nguyễn. Bởi trước đó, các Hoàng hậu chỉ được truy phong sau khi đã mất. Khi còn sống, họ chỉ được giữ tước Hoàng Quý phi.Trong khi Bảo Đại bị đánh giá là nông cạn, nhu nhược và ham vui, thì Nam Phương Hoàng hậu lại là người kín đáo, trầm tĩnh, có cá tính và suy nghĩ sâu sắc. Đồng thời bà cũng nuôi tham vọng chính trị gắn với tương lai của con cái.Thời gian Nam Phương Hoàng hậu ở ngôi kéo dài hơn 10 năm (từ 1934 đến 1945), kết thúc khi vua Bảo Đại thoái vị sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám. Sự kiện này cũng chấm dứt những kỳ vọng chính trị của bà, mở ra quãng đời sống lưu lạc và cô đơn nơi đất khách.Tháng 9/1945, trong khí thế cách mạng sục sôi tại Huế, Nam Phương Hoàng hậu đã thể hiện tinh thần yêu nước của mình khi là người đầu tiên hưởng ứng “Tuần lễ vàng” do Mặt trận Việt Minh phát động, tự nguyện tháo hết trang sức mang trên người hiến tặng cho cách mạng.Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, bà cũng gửi một thông điệp tới bạn bè châu Á, kêu gọi lên tiếng phản đối và ủng hộ sự tự do cho nhân dân Việt Nam. Thông điệp này sau đó đã được nhà sử học Jean Renaud ghi lại trong một ấn phẩm xuất bản năm 1949 tại Pháp.Ngày 1/1/1947, Nam Phương Hoàng hậu cùng các con sang Pháp. Dù được thừa hưởng một khối tài sản kếch xù từ gia đình, song phần lớn bà đều chia cho con cái, chỉ giữ lại một trang trại nhỏ, đàn bò cùng một vườn hồng luôn nở hoa.Ngày 14/9/1963, Nam Phương Hoàng hậu qua đời tại Pháp, hưởng dương 49 tuổi do bệnh nặng và không được cấp cứu kịp thời. Trong giờ phút lâm chung, bên cạnh bà chỉ có hai người giúp việc, trong khi các con và vua Bảo Đại đều ở xa.Cuộc đời bà đại diện cho số phận của một người phụ nữ từng đạt tới đỉnh cao danh vọng khi còn trẻ, nhưng cuối đời lại phải ra đi trong cô độc nơi đất khách. Dẫu vậy, với vẻ đẹp và lòng nhân từ của mình, Nam Phương Hoàng hậu vẫn là nhân vật lịch sử để lại nhiều suy ngẫm và chắc chắn sẽ còn được người đời nhắc tới.



