Anh hùng Lực lượng vũ trang

CHUYỆN VỀ NGƯỜI ANH HÙNG ĐẶC CÔNG RỪNG SÁC ĐÃ TRỞ THÀNH HUYỀN THOẠI.

Chiến trường miền Nam Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến chống đế quốc Mỹ ác liệt và kinh hoàng với hình ảnh người lính đặc công vai trần - chân đất đã khiến kẻ thù luôn sống trong khiếp sợ và ám ảnh. Chiến tranh đã qua đi, tựa như khúc ca đau thương đã lặng yên nhưng vẫn còn dai dẳng, âm ỉ.. Những ký ức về năm tháng chiến đấu gian khổ và oanh liệt vẫn còn lấp đầy trong những câu chuyện của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Đại tá Lê Bá Ước - người trực tiếp tham gia chỉ huy hơn 600

Hưng Yên02/12/2025Đào Ngọc Mai (Tổng hợp) (Cao đẳng sư phạm Thái Bình - CĐMN 25A6)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
CHUYỆN VỀ NGƯỜI ANH HÙNG ĐẶC CÔNG RỪNG SÁC ĐÃ TRỞ THÀNH HUYỀN THOẠI.

CHUYỆN VỀ NGƯỜI ANH HÙNG ĐẶC CÔNG RỪNG SÁC ĐÃ TRỞ THÀNH HUYỀN THOẠI.

Chiến trường miền Nam Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến chống đế quốc Mỹ ác liệt và kinh hoàng với hình ảnh người lính đặc công vai trần - chân đất đã khiến kẻ thù luôn sống trong khiếp sợ và ám ảnh.

Chiến tranh đã qua đi, tựa như khúc ca đau thương đã lặng yên nhưng vẫn còn dai dẳng, âm ỉ.. Những ký ức về năm tháng chiến đấu gian khổ và oanh liệt vẫn còn lấp đầy trong những câu chuyện của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Đại tá Lê Bá Ước - người trực tiếp tham gia chỉ huy hơn 600 trận đánh lớn nhỏ khác nhau tại Rừng Sác, ông được đồng đội và người dân khâm phục đặt cho biệt danh là "pho sử sống", "anh cả rừng Sác", "linh hồn rừng Sác”

Ông Lê Bá Ước (hay Bảy Ước) sinh ngày 12-04-1931 trong một gia đình làng quê nồng nàn truyền thống yêu nước và cách mạng tại xã Vĩnh Hoà Hưng, huyện Gò Quao, tỉnh Rạch Giá (nay là xã Vĩnh Hoà Hưng, tỉnh Kiên Giang).

Năm 1945, khi mới 14 tuổi, Lê Bá Ước đã được giác ngộ cách mạng từ sớm. Thấm thía hoàn cảnh đất nước đang bị ngoại xâm đe dọa, thiếu niên ấy đã lựa chọn gia nhập hàng ngũ Việt Minh và tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp, góp sức mình vào công cuộc giải phóng dân tộc. Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia Vệ quốc đoàn, ban tình báo C70.

Năm 1954, ông được tập kết ra Bắc để bồi dưỡng trở thành một sĩ quan chỉ huy. Thời điểm này, ông đã quen và gặp gỡ Nguyễn Kim Mến (người Cần Thơ), hai người nhanh chóng nảy sinh tình cảm và đi đến hôn nhân. Cô Kim Mến hạ sinh cho ông 2 người con 1 trai 1 gái

Năm 1965, sau khi thất bại trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ chuyển sang “Chiến tranh cục bộ”, chúng đưa quân trực tiếp vào miền Nam Việt Nam với kỳ vọng xâm chiếm ta nhanh chóng và nắm quyền kiểm soát tuyệt đối các trung tâm lớn và giữ vững những tuyến tiếp vận trọng yếu. Trong đó, sông Lòng Tàu(chảy qua rừng Sác) được coi là tuyến "huyết mạch" để Mỹ vận chuyển khí tài, xăng dầu, vũ khí, phương tiện chiến tranh... vào Sài Gòn. Vì vậy, Mỹ tập trung hết công lực. Chúng tăng quân hải quân, không quân, tàu chiến, tàu quét mìn... để bảo vệ và chiếm giữ toàn bộ khu vực này như một điểm tựa sống còn, biến Rừng Sác (Cần Giờ) thành "lá chắn sinh tử" cho cửa ngõ Sài Gòn.

Đứng trước tình hình này, phía ta phải tấn công trực tiếp vào hệ thống tiếp vận thủy chiến lược của địch, nhằm làm hao mòn khả năng chi viện của Mỹ - Ngụy cho Sài Gòn.Ngay trong bối cảnh đó, ông Lê Bá Ước đã bỏ lại gia đình phía sau, lặng lẽ cùng đồng đội vượt Trường Sơn nghìn dặm để trở vào miền Nam chiến đấu với quân hàm Đại úy. Đi bộ ròng rã hơn 6 tháng trời, đoàn quân của ông mới vào được chiến trường B2 Nam bộ.

Ngày 15-04-1966, Trung Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác ra đời. Đại úy Lê Bá Ước lúc này đã trở thành Thiếu tá, là Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy Trung đoàn 10 đặc công.

Rừng Sác là một vị trí chiến lược chính yếu, là bàn đạp hiểm yếu để ta tấn công vào sào huyệt, vào đầu não của địch từ hướng Đông Nam. "Nhiệm vụ chính của đơn vị là bám trụ, hoạt động tại khu vực rừng ngập mặn, sông rạch của rừng Sác để kiểm soát đường thủy và bến cảng kho tàng của đối phương". Với vai trò và trách nhiệm mới của mình, Bảy Ước sẽ là người chỉ huy toàn bộ các cuộc chiến đấu trên đất rừng Nam bộ này.

Nói về Rừng Sác, đây là nơi có rừng núi hiểm ác, sông nước hung hiểm. Địa hình rừng ngập mặn sình lầy với kênh rạch chằng chịt, rễ đuốc mọc um tùm sắc nhọn, thủy triều thất thường.. khiến cho các chiến sĩ hoạt động vô cùng gian nan, khó nhọc, đòi hỏi tinh thần thép để có thể thích ứng và vượt qua.

Đặc biệt, "thứ nổi tiếng" và "làm nên tên tuổi" của khu rừng này chính là cá sấu. Trong một tư liệu phỏng vấn trên kênh Quốc Phòng Việt Nam, ông Lê Bá Ước từng nói: "Có những lúc chúng tôi chẳng sợ quân địch bằng sợ cá sấu". Có những lúc ông và đồng đội lặn dưới nước, nín thở nằm chung với cá sấu, bên trên là hàng toán lính Mỹ đang cầm súng, chỉ cần một người sơ xảy khiến cá sấu phát hiện là cả tập thể sẽ chết hết, không chết vì cá sấu cũng chết dưới nòng súng của giặc.

Việc đói ăn, khát nước cũng trở thành thói quen bất đắc dĩ của ông và đồng đội suốt bao mùa mưa nắng. Họ thiếu thốn đủ thứ từ quân trang, giày dép đến thuốc men và những vật dụng cá nhân thiết yếu. Ông Bảy Ước nói rằng "quanh năm không có cơm không có nước ngọt, chỉ có đọt chà là gai và lá kìm là ăn được thôi". Bởi vậy, bộ đội phải nhờ vào tiếp tế của bà con chí cốt dũng cảm không sợ cảnh tù đày khi bị lộ, dùng ghe vận chuyển hàng chục tấn gạo được ngụy trang bằng đủ mọi cách.

Việc tiếp tế cho các chiến sĩ nơi đây cũng không hề dễ dàng, người dân khu vực này còn sống trong cảnh nghèo khó; địa hình và điều kiện khắc nghiệt của rừng Sác như đầm lầy, cá sấu, rắn rết... Đặc biệt là sự truy lùng và kiểm soát gắt gao của địch. Chúng tuần tra, phong toả, đặt mìn, càn quét liên tục, chúng chỉ cho phép người dân bắt cua bắt cá và cấm mang lương thực theo. Chúng rải bom, rải chất độc Dioxin, đốt cây phá rừng, san phẳng khiến khu rừng Sác trống không, trơ trọi giúp chúng dễ dàng kiểm soát ta. Điều này làm bộ đội ta và người dân khó khăn chồng chất khó khăn.

Dẫu vậy, nhưng bom đạn không thể ngăn được bước chân của người dân. Họ sẵn sàng chấp nhận rủi ro, hy sinh để che chở bảo vệ cho người lính. Họ tìm đủ mọi cách để tiếp tế cho quân đoàn. Họ lợi dụng kênh rạch chằng chịt, những lối nước chỉ người địa phương biết, đi bằng xuồng nhỏ vào lúc thủy triều dâng để xuồng luồn sâu, chèo xuồng bằng tay tránh gây tiếng động. Có những con kênh nơi xuồng không vào được, người dân phải gánh gạo, nước vào ban đêm tránh sự truy lùng của lính Mỹ. Dựng lên nhiều "chòi tiếp tế" bí mật. Họ chôn gạo và nước ngọt vào các hố, hầm ngầm để bộ đội tự tìm theo kí hiệu đã thống nhất..

Có thể nói, nghĩa tình dân và quân thấm thía hơn bất cứ lời ca ngợi nào. Tình nghĩa ấy lặng lẽ nhưng bền bỉ, như "dòng máu vô hình" âm thầm nuôi dưỡng những người lính.

Ông Lê Bá Ước sau này cũng xúc động và ngậm ngùi chia sẻ: "Khi ác liệt và khó khăn nhất, chúng tôi luôn có dân ở bên. Có những ông già chấp nhận chở hàng chục tấn gạo tiếp tế chúng tôi trong lúc Nguyễn Văn Thiệu rải rải trên đài là: "Ai tiếp tế 1 ki-lô-gram gạo cho Việt cộng là tử hình, tử tình, tử hình." Vậy nhưng người dân vẫn tiếp tế hàng chục tấn gạo cho chúng tôi, từ Mỹ Tho đến Châu Đốc từ Bến Tre..."

Gian lao nối dày những gian lao, nhưng ông và đồng đội vẫn tồn tại không chỉ như cái gai trong mắt địch mà còn khiến chúng phải dè chừng trong từng bước đi. Lính SOG và SEAL bị ám ảnh vô cùng bởi "không nhìn thấy địch nhưng địch nhìn thấy mình". Các chiến sĩ đặc công có thể là bụi cây, ngọn cỏ, họ lặn mà mặt nước không một gợn sóng, họ lấp trong bùn lầy, ẩn dưới mặt đất.. Họ giống như cái bóng không gây tiếng động. Và khi địch nhận ra thì chúng đã chết.

Dưới sự chỉ huy tài tình, sáng suốt và quyết đoán của Lê Bá Ước, Trung đoàn 10 đã tận dụng trắc trở của địa hình thành thế mạnh mà chỉ quân ta nắm rõ bởi phe địch còn lúng túng và bỡ ngỡ. Kết hợp với ý chí kiên cường bất khuất, nghệ thuật tác chiến linh hoạt, Trung đoàn 10 đã lập nên những chiến công vang dội đi vào lòng người, làm rạng danh sử Việt.

Trong những năm từ 1966-1975, Đoàn 10 đặc công Rừng Sác đã đánh gần 600 trận lớn, nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu 6.200 tên địch. Phá hủy và đốt cháy 356 tàu chiến đấu, 13 tàu vận tải với trọng lượng từ 8000-13000 tấn. Bắn rơi 29 máy bay trực thăng. Tiêu hủy 110.000 tấn bom đạn, 250 triệu lít xăng dầu.

Vũ khí của họ chủ yếu là một số lưu đạn, một số vũ khí cầm tay và vũ khí chống tăng bắn gần. Sự khác biệt lớn so với hàng trăm công cụ đánh chiếm và phương tiện hiện đại tối tân của địch. Chính điều đó lại làm nên hình ảnh vĩ đại của người chiến sĩ đặc công rừng Sác, khiến tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam W. Westmoreland đã phải thừa nhận "những người lính Mỹ ở đây đã gặp phải cuộc chiến đấu kỳ lạ trong một cuộc chiến tranh kỳ lạ"

Những chiến tích huy hoàng của ông Lê Bá Ước và đồng đội phải kể đến như trận đánh chìm tàu Victory tối tân (tháng 8-1966), phá kho bom thành Tuy Hạ, phá hủy kho xăng Nhà Bè và tổ chức pháo kích Dinh Độc Lập, Toà đại sứ Hoa Kỳ.

Nói về chiến công đánh tàu Victory huyền thoại vào tháng 8-1966, tàu Victory thời điểm đó chở khoảng 100 xe tăng, thiết giáp; hai máy bay trực thăng; 20 tấn lương thực thực phẩm... để cung cấp cho một sư đoàn Mỹ. Dưới sông, địch thăm dò và tuần tra liên tục. Trên trời, máy bay luôn rà quét và khoá chặt bầu trời chiến sự. Mặt đất, địch biệt kích phủ kín và đông đảo. Quân ta phải ngâm mình dưới nước, lấp thân dưới bùn hàng chục giờ để thám thính và dò xét địch. Sau hơn một tháng chuẩn bị và lên kế hoạch, sáng 23-8, chờ đúng thời cơ tàu Victory đi qua, hai quả thủy lôi của các chiến sỹ Đoàn 10 đã làm nổ tung con tàu với trọng tải hơn 10.000 tấn cùng khí giới chìm xuống lòng sông.

Và một chiến thắng huy hoàng không thể không kể đến nữa là trận phá hủy Tổng kho xăng Nhà Bè. Nhận thấy việc phá hủy kho này sẽ gây tổn thất lớn cho địch về nguồn nhiên liệu, làm giảm khả năng chiến đấu của chúng. Trong nhiều tháng, quân ta đã nhiều lần đột nhập, trinh sát các tuyến đường thủy, đường bộ vào kho Nhà Bè, nghiên cứu địa hình, thủy triều, hướng tuần tra của địch. Chúng xác định đây là mục tiêu chiến lược do đó ra sức bố trí lực lượng ứng cứu và đảm bảo an ninh tuyệt đối cho kho xăng. Địch xây dựng lớp phòng thủ cực kỳ kiên cố gồm 12 lớp rào bao bọc: rào song sắt, rào chẻ ba, dây thép gai bùng nhùng cao 3,5 m cùng với sự hỗ trợ của chó nghiệp vụ, ngỗng, mìn, pháo sáng, hệ thống đèn pha, tháp canh.

Ngày 30-11-1973, sau 14 cuộc điều tra và nghiên cứu hết sức công phu, nhiệm vụ đánh kho xăng Nhà Bè được giao cho nhóm đặc công cảm tử Đội 5 gồm 8 chiến sĩ xuất quân với lời thề "Chưa đốt cháy kho Shell, chưa trở về".

Ta tấn công vào đêm khuya và rạng sáng, bởi đây là lúc địch chủ quan, tuần tra lỏng lẻo hơn. Hướng tiến công của ta được đặt từ sông, vì kho nằm sát bờ sông, thuận lợi để luồn sâu mà địch ít đề phòng. 0h35’ sáng ngày 3-12-1973, khi đã vào được hang ổ của địch, nhóm đặc công cho kích nổ đồng loạt các khối thuốc nổ, mìn gắn vào bồn chứa nhiên liệu và hệ thống dẫn xăng, lửa bùng phát, nổ toàn bộ dây chuyền, gây tổn thất và thiệt hại nghiêm trọng. Kho xăng Nhà Bè cháy suốt 12 ngày đêm không ngừng nghỉ, rực sáng bầu trời Sài Gòn, người dân reo hò vui sướng.

Bên cạnh những chiến công lừng lẫy vang dội, lịch sử còn chứng kiến không ít gian khổ và sự hy sinh thầm lặng của biết bao anh hùng thuộc Trung Đoàn 10. Trong đó trận đánh kho xăng Nhà Bè chứng kiến sự hy sinh anh dũng của hai chiến sĩ Nguyễn Công Bao và Phạm Văn Tiềm (hai chiến sĩ mất năm 1973 nhưng đến tận 1999 mới tìm thấy được xác)

Ông Lê Bá Ước vừa tự hào vừa xót thương đồng đội: "Lòng quả cảm của chiến sĩ chúng tôi anh dũng tuyệt vời.. Để phá hủy một tàu ngàn tấn, các chiến sĩ phải ôm bộc phá 15km băng rừng lặn nước vượt cá sấu hoàn thành nhiệm vụ.."

Suốt 10 năm bám trụ và chiến đấu ở rừng Sác, ông chứng kiến hơn 860 chiến sĩ hy sinh trong đó có 500 liệt sỹ vĩnh viễn nằm lại nơi đây không thể tìm thấy hài cốt. Trong đó phần nhiều chết vì đói ăn, bệnh tật, bị cá sấu cắn.. Có một người thân hỏi ông làm sao để tìm được các anh, ông chỉ ngậm ngùi và cay đắng nói "không tìm thấy được đâu, bị cá sấu ăn hết rồi..."

Năm 1996 ông trở lại rừng Sác, nhìn một rừng Sác mênh mông chứa những ký ức đau thương, một rừng Sác chôn vùn tuổi thanh xuân và cả đời người lính ở lại, dưới chân ông chính là đồng đội gắn bó sâu nặng nhưng không cách nào đưa các anh trở về..

Ông làm một bài thơ để tỏ nỗi lòng nhớ thương đồng đội của mình:

"Lặn sâu xuống nước sông Lòng Tàu,

Đồng đội ngày xưa có thấy đâu

Hỏi ốc: Nằm im tôi chả thấy

Hỏi cua, cua bảo: "Sấu ăn rồi"

Xương trắng nở hoa tận đáy sông

Mênh mông rừng Sác nhuốm màu hồng

Năm trăm hài cốt chưa tìm thấy

Rừng đước bạt ngàn lập chiến công."

Chiến tranh còn lấy đi người vợ đầu tiên của ông, là cô Nguyễn Kim Mến. Khi ông vào Nam, cô Mến thương chồng gian nan khổ cực, cô cắn răng để lại hai đứa con thơ cho họ hàng. Quyết bất chấp khổ ải gian nan để vượt Trường Sơn hơn nửa năm với ý định vào đơn vị giúp đỡ cho chồng. Cô chăm chỉ và tận tâm học y sĩ để tham gia vào Đoàn 10 với nhiệm vụ chăm sóc, cứu thương cho bộ đội ở bệnh xá. Ngày 20-01-1970, một nhóm trực thăng phát hiện ra căn cứ quân y của ta, chúng khoanh tròn khu vực rồi thay nhau bắn xả liên hoàn rốc-két để phá hủy căn cứ và giết người bên ta. Kết quả, cô Tư Mến cùng một bác sĩ, hai y tá và ba thương binh đã đau đớn hy sinh.

Rất lâu sau này khi ông đã vượt qua được nỗi đau mất mát cô Tư Mến, cộng với lời khuyên của anh em đồng đội, ông nên duyên cùng bà Thân Thị Tuyết Vân, vợ của liệt sĩ Phạm Kế Tiếp, nguyên Đại đội trưởng đặc công. Hai người sau đó có với nhau 3 người con chung.

Ngày 23-9-1973, với những chiến công oanh liệt, Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực Lượng Vũ Trang nhân dân. Cho đến nay, Đoàn 10 có 3 tập thể và 9 cán bộ, chiến sĩ được tuyên dương và truy tặng danh hiệu cao quý này, trong đó Đội 5 đặc công cảm tử được tuyên dương hai lần.

Sau khi chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ thất bại, ông không trở về cuộc sống bình thường mà tiếp tục ghi dấu ấn và tạo công lao trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Đầu năm 1974, ông Lê Bá Ước là Chính ủy Sư đoàn 2 Đặc công. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Sư đoàn 2 được giao nhiệm vụ chiếm giữ các đầu cầu trọng yếu, tạo điều kiện cho 5 cánh quân chủ lực tiến vào giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước.

Năm 1978, cuộc chiến tranh chống Pol Pot, bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam nổ ra. Lê Bá Ước tiếp tục tham gia chỉ huy chiến đấu trên tuyến Lộc Ninh-Bù Đốp. Khi hoàn thành nhiệm vụ lật đổ chế độ Khmer Đỏ trở về, Đại tá Lê Bá Ước là Tỉnh ủy viên, Phó chỉ huy trưởng về chính trị Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Nai, đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh (khóa III, khóa IV).

Tháng 10-2012, Đại tá Lê Bá Ước được Đảng và nhà nước tuyên dương tặng danh hiệu và huân chương: Anh hùng Lực Lượng Vũ Trang Nhân Dân; Huân chương Quân công hạng II; Huân chương chiến thắng hạng III; Huân chương kháng chiến hạng Nhất; Huân chương chiến công hạng III; Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba; Huy chương Chiến sĩ vẻ vang Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng.

Đất nước im hơi tiếng súng, trở về với đời sống thường nhật nhưng ông vẫn tiếp tục sự nghiệp vẻ vang của mình. Ông tham gia vào Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai, sáng tác nhiều thơ văn về chiến tranh. Trong đó, tác phẩm "Một thời Rừng Sác" (2 tập) là tập hồi ký nổi tiếng của ông kể lại hành trình 10 năm bám trụ tại rừng Sác, những khổ cực triền miên, những chiến công vang dội và cả những câu chuyện đời thường hết sức giản dị.

Chiều ngày 18-10-2016, trái tim của người Anh hùng rừng Sác đã vĩnh viễn ngừng đập, để lại bao niềm tiếc nuối và xúc động.. Tuy ông đã ra đi nhưng tình yêu với đồng đội và chiến trường vẫn còn tồn tại như ngọn lửa không bao giờ có thể dập tắt. Sau khi qua đời, người nhà theo di nguyện của ông đã hoả táng ông và để lại một phần tro cốt của ông tại rừng Sác. Ông đã "trở về" cùng 800 liệt sĩ, họ đã hoà vào hồn thiêng sông núi nước Việt, họ đã trở thành một biểu tưởng cao đẹp và vĩ đại của người lính Việt Nam: là tấm gương đạo đức sáng ngời, tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, trọn tình vẹn nghĩa

Giờ đây khi chiến tranh đã lùi xa, nhưng những ký ức của người lính về một thời máu lửa mưa bom vẫn còn vẹn nguyên như mới hôm qua. Những trang sử ấy không chỉ là những trận đánh, những chiến công mà còn là hồn người, là ý chí và lòng quả cảm, là dấu ấn của một thời khốc liệt nhưng cũng vô cùng rực rỡ, nơi chiến công và sự hy sinh hoà lẫn với nhau. Mỗi khi nhắc tới Rừng Sác, ta lại thấy trong lòng một niềm tự hào trào dâng trong khí quản. Chiến thắng ấy là một minh chứng rõ ràng về giá trị của tinh thần quả cảm, tình nghĩa đồng đội, và những khát vọng tột cùng được tự do và thống nhất đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn