Chuyện Về Người Anh Hùng Trần Hưng Đạo
Chuyện Về Người Anh Hùng Trần Hưng Đạo
Trần Quốc Tuấn sinh ra giữa buổi đầu triều Trần dựng nghiệp, khi đất nước vừa thoát khỏi loạn lạc nhưng mối họa từ phương Bắc đã bắt đầu nhen nhóm. Thuở thiếu thời, ông nổi danh là bậc kỳ tài, ngày đêm miệt mài kinh sử, rèn gươm luyện kích, tinh thông từ thiên văn đến địa lý. Nhưng đằng sau khí chất trầm tĩnh ấy là một gánh nặng gia tộc chất chứa: cha ông, An Sinh vương Trần Liễu, vì những hiềm khích chốn hoàng thất mà trước lúc nhắm mắt đã trăn trối đòi con trai phải đoạt lấy thiên hạ để rửa hận.
Giữ trong tay lời trăn trối nặng tựa ngàn cân, Quốc Tuấn nhiều đêm đứng lặng bên bờ sông Hồng, nhìn dòng nước đỏ ngầu cuộn chảy. Ông tự nhủ, thù nhà dẫu sâu nhưng đặt ngai vàng của một dòng họ lên trên sinh mệnh của hàng triệu con dân thì chỉ là sự bất nghĩa. Ông quyết định gác lại tư thù, chọn chữ "đại hiếu" với xã tắc, một lòng phò tá các vua Trần bảo vệ bờ cõi.
Nửa sau thế kỷ XIII, vó ngựa Mông - Nguyên quét qua từ thảo nguyên Á sang tận trời Âu, san phẳng vô số thành trì hùng mạnh. Khi ngọn lửa xâm lăng bén tới biên cương Đại Việt, năm vạn rồi năm mươi vạn quân giặc do Thoát Hoan cầm đầu ồ ạt tràn qua biên giới. Đứng trước họa diệt vong, vua Trần Nhân Tông phong Trần Quốc Tuấn làm Quốc công Tiết chế, giao phó toàn bộ vận mệnh non sông vào tay ông.
Hiểu rằng muốn thắng giặc dữ thì lòng người phải là một khối, việc đầu tiên ông làm là hòa giải mối bất hòa trong hoàng tộc. Ông tự tay đun nước, tắm gội cho Thái sư Trần Quang Khải bên thuyền ngự, khiến tị hiềm năm xưa tan biến như bọt nước. Đến khi thế giặc tràn ngập, kinh thành Thăng Long chìm trong khói lửa, vua Trần ướm hỏi liệu có nên tạm hàng để tránh cảnh đầu rơi máu chảy, Quốc Tuấn đã quỳ thẳng lưng, dõng dạc tâu một câu đanh thép làm rung chuyển cả long đình: "Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã!".
Để thổi bùng ngọn lửa quyết tử vào lòng quân sĩ, ông viết nên áng thiên cổ hùng văn Hịch tướng sĩ. Từng câu văn như rút từ ruột gan: "Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù...". Lời hịch vừa ban ra, hàng vạn binh sĩ đồng lòng khắc lên cánh tay hai chữ "Sát Thát", nguyện đem xương máu bảo vệ từng tấc đất quê hương. Nhờ mưu lược "vườn không nhà trống", nhử giặc vào thế mỏi mệt thiếu lương rồi bất ngờ tung đòn phản công chớp nhoáng tại Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, quân dân nhà Trần đã quét sạch giặc thù. Tướng giặc Thoát Hoan phải chui vào ống đồng tháo chạy về nước trong nỗi khiếp đảm.
Nhưng kẻ thù không cam chịu thất bại. Mùa xuân năm 1288, Thoát Hoan cùng tướng Ô Mã Nhi lại đem đại quân thủy bộ kéo sang lần thứ ba. Lần này, Trần Quốc Tuấn chọn khúc sông Bạch Đằng làm nơi định đoạt số phận cuộc chiến. Dưới sự chỉ đạo bí mật của ông, hàng vạn thân cây lim vót nhọn, bịt sắt được cắm sâu xuống lòng sông, ẩn mình dưới dòng nước triều cuồn cuộn.
Đúng ngày nước lớn, chiến thuyền Đại Việt vờ thua rút chạy, dụ đoàn thuyền chiến đồ sộ của giặc lọt thấu vào trận địa. Khi triều rút nhanh, những ngọn cọc nhọn nhô lên như bàn chông thép, xé toạc đáy thuyền giặc. Tiếng trống đồng vang dậy đất trời, thuyền quân ta từ hai bờ ập ra phóng hỏa tiêu diệt. Ô Mã Nhi bị bắt sống, hơn bốn trăm chiến thuyền của đế chế Mông Cổ tan tành thành tro bụi trên dòng sông huyền thoại. Khúc tráng ca Bạch Đằng một lần nữa khép lại giấc mộng bành trướng của kẻ thù phương Bắc.
Sau những năm tháng chinh chiến lẫy lừng, ông chọn lui về an dưỡng tuổi già tại vùng sơn thủy Vạn Kiếp. Những năm tháng cuối đời, khi vua Trần Anh Tông đến thăm và vấn kế giữ nước muôn đời, vị đại tướng già chỉ để lại một lời dặn dò giản dị mà chứa đựng chân lý ngàn năm: "Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy".
Mùa thu năm 1300, Trần Hưng Đạo thanh thản trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ 73 tuổi. Ông ra đi để lại một non sông vẹn toàn và một tấm lòng vì nước vì dân sáng ngời trong sử sách. Từ triều đình cho tới xóm làng, người người tiếc thương, kính cẩn tôn ông là "Đức Thánh Trần", lập đền thờ phụng khắp chốn, đời đời ghi nhớ công đức của vị tướng đã cứu giang sơn thoát khỏi họa diệt vong.



