Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Chuyện về người chiến sĩ thoát chết nhờ dân

Đây là giai thoại ông Hoàng Văn Vần được kể từ người vợ và sử lược họ Hoàng ở thôn An Tiến, Xã Chí Hòa, Hưng Hà, Thái Bình. Nay là Xã Hồng Minh, Hưng Yên

Hưng Yên07/12/2025Hoàng Quân (THPT Nguyễn Đức Cảnh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bà Phạm Thị Nữ bây giờ cũng đã ngoài 100 tuổi, đang ở Phường Tân Thành, Thái Nguyên cùng với 3 người con. Trong một lần lên thắp hương giỗ ông Hoàng Văn vần quê ở Thái Bình, Bà Nữ với một trí tuệ minh mẫn và sáng suốt đã kể lại những ngày nước lũ ngập nhà quê 1945-1946, ngày tháng sinh hoạt chi bộ Đảng và cả khi chồng bà bị giặc truy đuổi.

Ông Hoàng Văn Vần sinh năm 1920 tại làng An Tiến, Xã Chí Hòa (Nay là Hồng Minh) của Huyện Duyên Hà trong một gia đình làm nông truyền thống. Trong gia đình ông Vần là con trai cả. Cha mẹ tích góp xây được căn nhà 5 gian lợp mái rơm to nhất nhì làng, cũng có những phần ruộng của riêng, gia cảnh khá giả nhưng cụ Thiều (cha ông Vần) khi ấy luôn giúp đỡ làng xóm, giúp sức xây đình làng. Do vậy làng xóm ai cũng biết đến và thương yêu gia đình. Ông Vần sớm được tiếp xúc với con chữ nho, nôm và được học giáo lý nhà Phật do Cha ông đầu tư cho con cái học hành và mẹ ông là một người Phật tử. Ngay từ khi còn bé, ông Vần nổi tiếng là đứa trẻ lành tính trong làng thường xuyên được các thầy chùa sau làng giảng dạy nên ông hiểu nhiều về Phật giáo.

Khác với ông Vần, bà Nữ lại là người phố Huyện, cha bà là một thương nhân nhỏ buôn bán chiếu cói, bà được tiếp xúc với chữ quốc ngữ từ khi mới 4 5 tuổi đời nên nắm bắt rất rõ những tập tin trong huyện. Ông lấy bà Nữ làm vợ và kết đôi năm 1937. Đều đặn hàng ngày, người vợ lấy que gậy vẽ lên mảnh vườn từng con chữ để cho ông Vần học viết, ông Vần học rất nhanh, chỉ sau 2 tháng ông đã thông thạo con chữ mới. Sau khi lấy vợ không lâu, trong một lần đi buôn cá tại chợ Huyện về nhà, bà Nữ được nghe cán bộ về làng vận động bà con nhân dân tham gia cách mạng, ủng hộ Đảng và đả đảo đế quốc. Bà Nữ cầm truyền đơn mang giấu vào bụng con cá rồi mang về nhà mở ra cho ông Vần đọc. Sau đó Ông nghe theo tiếng gọi của tổ quốc lên đường ngay trong mùa đông năm ấy, trở thành giao liên bí mật của tổ chức Đảng ở Huyện. Ông được kết nạp vào Liên Chi Bộ Thần Duyên và được học tập tại mái Trường Tổng Vị Sĩ. Đó là những ngày được tiếp xúc với những tư tưởng lớn, những thanh niên tiến bộ và ông Vần cũng đã hiểu về bộ mặt của thực dân Pháp sau khi nghe lịch sử nó cướp và khai thác nước nhà, người thanh niên Vần khi ấy ngày càng căm thù và sục sôi trả thù.

Trong một lần ông giao tài liệu từ Thị Xã Thái Bình về Huyện Duyên Hà cùng người cộng sự đến từ Tiên Hưng, 2 ông bị toán lính Pháp truy đuổi trên con đê thôn Song lãng, Vũ Thư. Người đồng hành đã đẩy ông Vần xuống vườn ngô thoải trên đê của dân làng. Toán lính đã phục kích bắt sống người cộng sự của ông, người cộng sự nhất quyết nhận rằng chỉ đi một mình và là người dân thường, Lính Việt trong toán lính đó có một tên đồng hương biết người cộng sự này, hắn tuyên bố rằng ông chính là đảng viên cộng sản, ngay sau đó chúng đã phát hiện ra cuộn tài liệu được giữ trong đế dép. Chúng nhẫn tâm cầm lưỡi lê đâm thủng bụng người bạn ông Vần, lấy thủ Quỹ đem nộp cho cấp trên, người cộng sự của ông đã hy sinh tại chỗ. Ông Vần thấy vậy thì lén lút rút ra sau vườn ngô nhưng do không biết bơi, nên chỉ chờ đến khi toán lính đó giải tán. Nhưng bọn Pháp cũng tổ chức đi lùng sục người thứ 2 theo thông tin nội bộ, chúng chia thành tốp 2 người một tỏa ra khắp ngả. Rồi có 2 tên xuống kiểm tra vườn ngô ông Vần đã mai phục rồi tấn công ôm chặt tên lính từ phía sau, hắn cũng cầm con dao găm rồi đâm trọng thương 5 nhát ở vùng sườn và đùi nhằm chống cự, ông Vần vật tên lính đó ấn xuống bùn kết liễu và cướp vũ khí, tên còn lại thấy ông nên nổ súng đạn găm vào thân chuối rồi bắn tóe cả nước nhưng không trúng ông. ông đành phải bỏ của chạy người. Tên còn lại chạy xuống kiểm tra thấy đồng nghiệp đã chết nên cũng sợ hãi không dám truy bắt.

Ông đã chạy thoát được một hồi lâu rồi nhưng do trời đã tối, quần áo đã trở nên rách rưới, máu rỉ ra từ vết thương đã bớt nhưng tình trạng đã rất nguy hiểm. Hai đôi chân đã mỏi lừ, buộc ông phải lết tiếp trên mặt đê rồi bị mất máu quá nhiều kiệt sức mà ngất lịm đi. May sao có 2 vợ chồng già đi cày về thấy người gục bên đường đã thương cảm mà đặt ông Vần lên con trâu rồi đưa về nhà rồi đặt ông nằm trên một tấm rơm làm đệm, người đàn bà thì nấu cháo trong đêm tối. Người đàn ông khi ấy cởi áo ông Vần ra, thấy vết thương bên sườn, ông cụ xót xa nhét một mảnh vải vào miệng người thanh niên để tránh đau quá mà bất giác cắn vào lưỡi. Ông cụ an ủi: "Chịu khó tí nha anh" rồi đốt nến hằn vào vết thương. Mỗi giọt nến nóng rơi vùng bụng đã chặn lại vết máu rỉ ra từ vết đâm nhưng cũng đã đánh thức ông Vần thức giấc trong sự đau đớn, khi chàng trai ấy đã tỉnh táo, người nông dân già hỏi ân cần và chậm rãi: "Thầy u anh là ai? sao anh lại ra nông nỗi này anh gì ơi?"

Ông Vần khẽ nói: "Xin bác báo cho già đình cháu biết, cháu là Hoàng Văn Vần con thầy Hoàng Văn Thiều, nhà ở làng An Tiến, Xã Chí Hòa sông bên kia, cháu làm cách mạng bị địch truy bắt, bác cứu cháu với ạ"

Ông cụ bèn đỡ người thanh niên trọng thương ấy ngồi dậy rồi bón cháo cho ăn: "Cậu ơi, bà nhà tôi có bát cháo này, chỉ có gạo và tí mắm cậu ăn đỡ lại chóng khỏe, quần áo tôi phơi giặt sạch sẽ cho cậu rồi, trong lúc đợi nó nỏ, cậu mặc tạm bộ của người con trai tôi nhá, mai tôi sẽ nhất quyết báo cho thầy u anh".

Người thanh niên nghe xong ông cụ ấy nói chân thành, giản dị mà khóc nức nở như trẻ con. Cụ bà bón cháo đút lên miệng anh, còn cụ ông đi gọi thanh niên trai tráng đến giúp tìm thầy u ông Vần báo tin.

Bọn Lính Pháp sợ cấp trên trị tội nên đã báo cáo xử tử thành công 2 người, thông tin đó được truyền đi mạnh mẽ, dân nơi nào nghe thấy cũng căm ghét trước sự man rợ của bọn lính vô cùng. Chi Bộ của ông Vần nghĩ anh Vần đã hy sinh nên đã báo về cho gia đình biết (Lúc ấy gia đình không biết ông làm gì cho cách mạng). Bà mẹ ông Vần đêm biết tin cũng đã không kìm được sự đau buồn, người vợ Phạm Thị Nữ cũng ôm mẹ chồng khóc hu hu, đứa con gái thứ hai khi ấy cũng ra an ủi mẹ. Còn người đàn ông trong nhà, cụ Thiều thì ra ngoài hè hút thuốc lào nhìn về phía con đê trước nhà đau buồn nhưng cũng chẳng thể khóc. Kể từ ấy, ngày nào cụ bà cũng đi chùa cầu siêu, thắp hương vái lậy tiên tổ độ sinh cho con mình, cầu khấn xin con phù hộ cho gia đình.

Trong thời gian dưỡng thương được 2 cụ chăm sóc tận tình và chu đáo, ông Vần cũng dần hồi phục. Mãi 2 tuần sau ngày sau có người báo tin cho ông cụ thân sinh anh biết, ông cùng 2 người trung niên trong làng và anh thanh niên làng bên đi thuyền sang Vũ Thư kiểm chứng. Ngay khi bước vào gian nhà tranh, đôi mắt sáng của ông đã rưng rưng đỏ hoe, ông thấy đứa con của mình chưa chết, ông chạy lại ôm con rối rít vui sướng thốt lên: "Con tôi chưa chết, con tôi đây rồi, Vần con tôi đây rồi các ông ơi" Nhưng ông Thiều thấy con mình bị thương, đầu tóc rối bời, tay chân vẫn còn đóng bùn đất, chiếc áo vắt trên cành cây rách rưới, ông cũng khóc vì thương con, rồi ông lấy hai vạt áo cũng đã may chằng chịt những vết vá lau đi những hàng lệ chảy ròng ròng trên má rồi quỳ xuống lạy cảm tạ ơn đức 2 vợ chồng già. Sau đó khênh con lên võng đưa về nhà chăm sóc.

Người mẹ thấy con mình trở về thì cũng tưởng con chết rồi nên bà sốt sắng đón từ cổng ngõ, thấy con Vần về nhà, bà con làng xóm kéo vào xem đông chật cổng nhà, ông Vần khi ấy xấu hổ với bà con làng xóm vì bộ dạng của anh thảm hại lắm, ông cứ ở mãi trong căn buồng sâu trong nhà không chịu ra gặp anh em thôn làng từng đồng cam cộng khổ với ông. Người vợ đi chợ về cũng thấy vui trong lòng nhưng người mẹ giữ lại không cho gặp vì sợ sẽ phạm vào tín ngưỡng, cũng một phần bà muốn đứa con yên ổn.

(Bà Nữ sung sướng kể lại cho tôi nghe lúc ấy: Ôi trời ơi, đi cách mạng, đi giao liên có gì mà phải xấu hổ?)

Bà còn kể chuyện người mẹ khi ấy đã dùng phương thuốc các cụ khi xưa dùng râu ngô, lá mơ, rau ngỏ để chữa bệnh sỏi thận cho con.

Sau này khi đã trở về với tổ chức Đảng, ông tham gia tổ chức Việt Minh, cùng bà con nhân dân các Huyện lật đổ chính quyền Thực Dân, Phát Xít, cướp gạo Nhật cứu đói. Sau đó trở thành trung sĩ rồi là sĩ quan thượng úy chỉ huy cấp trung đội quân đội nhân dân Việt Nam, ông Vần cũng là người của "sư đoàn chiến thắng": Sư đoàn 312.

Khi quân ta mở chiến dịch Trần Hưng Đạo, 2 trung đoàn 141 và 209 đã cùng tập kết tham gia chiến dịch và phối hợp với bộ đội địa phương tỉnh Vĩnh Phúc chặn đánh Binh đoàn cơ động số 3 của Pháp càn vào vùng Việt Minh tập trung quân chủ lực. Riêng trong ngày 27 tháng 12 năm 1950, các đơn vị của F312 đã tiêu diệt và bắt sống gần như toàn bộ tiểu đoàn Bắc Phi số 24 của Binh đoàn cơ động số 3 tại Xuân Trạch (huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc). Trong chiến dịch này chiến sĩ Vần cũng đã lập công bắn tiêu diệt 14 tên giặc.

Ngày 3/9/1951, Đại đoàn 312 nhận nhiệm vụ lên Tây Bắc mở chiến dịch mang tên "Lý Thường Kiệt". Trong chiến dịch này, Đại đoàn đã đánh 9 trận, tiêu diệt 430 tên địch, làm bị thương gần 400 tên, bắt 200 tên.

Trung đoàn 141 và 209 của đại đoàn 312 lần lượt tiêu diệt và đánh sập các cứ điểm Him Lam ngày 13 tháng 3 năm 1954 để mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ.

Rạng sáng 15/3, Đại đoàn 312 cùng các đơn vị phối thuộc tiến công cứ điểm Độc Lập. Trung đoàn 165 của đại đoàn đảm nhiệm hướng chủ yếu, sau hơn ba giờ chiến đấu đã đột phá thành công, làm chủ trận địa, tiêu diệt Tiểu đoàn 5 Bắc Phi, góp phần phá vỡ tuyến phòng ngự phía bắc và đông bắc của tập đoàn cứ điểm.

Trong đợt hai chiến dịch (30/3 – 19/4), Đại đoàn 312 được giao nhiệm vụ đánh chiếm các cao điểm quan trọng ở phía đông trung tâm như đồi D1, D2, E và điểm cao 105. Trải qua nhiều trận giằng co quyết liệt, đơn vị đã tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng nhiều tiểu đoàn địch, đồng thời đào hào áp sát, chia cắt sân bay Mường Thanh, khiến lực lượng Pháp rơi vào thế bị bao vây chặt chẽ.

Đến đợt ba chiến dịch (từ 1/5), Đại đoàn 312 tiếp tục tiến công, chiếm các vị trí còn lại ở phía đông, đồng thời thọc sâu vào khu trung tâm.

Chiều 7/5/1954, đơn vị tham gia tổng công kích, trong đó Đại đội 360 thuộc Trung đoàn 141 đã vượt cầu Mường Thanh, tiến thẳng vào Sở Chỉ huy tập đoàn cứ điểm, buộc tướng Đờ Các và toàn bộ Bộ Tham mưu Pháp đầu hàng lúc 17 giờ 30 phút. Từ câu chuyện ngày 7/5 ta đã có bài thơ:

Đêm hè trăng gió mát,
Ngồi trên chõng tre êm,
Cha kể chuyện Điện Biên:
Bộ đội mình chiến thắng,
Lũ Tây bị bắt sống,
Ta giải đi từng đàn,
Tướng Đờ Cát xin hàng,
Bốt đồn đều san phẳng.
Cờ quyết chiến quyết thắng,
Tung bay trên nóc hầm.
Chiều mùng bảy tháng năm,
Một chiều hè lịch sử.

Đây cũng là bài thơ mà ông Vần khắc ghi trong tâm trí khi kể về Điện Biên Phủ, kể về những ngày "Đầu nung lửa sắt" và ký ức "Năm mươi sáu ngày đêm, khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt". Ông đã có một thời thanh niên sôi nổi vì lý tưởng cao đẹp nhất: Giải phóng con người.

Sau "pháo đài bất khả xâm phạm" của Pháp bị quân ta đánh sập toàn bộ, chúng đã buộc phải ký hiệp định Giơ-ne-vơ rồi rút khỏi miền Bắc và Lãnh thổ nước ta. Cứ thế trải qua vô vàn trận đánh, ông Vần đã trải qua những ngày tháng đẹp nhất của cuộc đời là những ngày quân ngũ, được ăn cơm muối vừng, được sinh hoạt cùng những người đồng đội thắm tình đồng chí, được xông vào từng lỗ châu mai tiêu diệt và bắt sống địch, được trả thù cho người bạn giao liên năm xưa và lập chiến công. Ông được trao tặng huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên, Chiến Công hạng Nhất.

Ông Hoàng Văn Vần khi ấy được gọi lên Thái Nguyên tập kết phát triển kinh tế, cùng vợ con vượt lên mảnh đất xa xôi để xây tổ ấm, xây dựng địa phương. Ông đã làm việc tại nhà máy gang Thép Thái Nguyên sau khi học làm cơ khí. Cả cuộc đời ông vẫn mãi là người chiến sĩ cộng sản kiên trung, kiên cường, chân thành, giản dị và vẫn có phần nét quê như phần hồn con người thừa hưởng từ mảnh đất Hưng Hà địa linh nhân kiệt. Ông được 70 năm tuổi Đảng, là tấm gương sáng cho họ Hoàng ở làng An Tiến mãi noi theo. Các em của ông sau này, em gái thứ hai là giám đốc nhà máy ở Hải Phòng, được cấp nhà ở sinh sống. Em trai thứ ba học giỏi nhất được cử sang Đức học tập thời trẻ và là một quân nhân pháo binh rồi thành trọng tài bộ môn bắn súng ở SeaGames. Người em út là trung úy quân nhân chuyên nghiệp và là người giữ nếp nhà, thờ cúng gia tiên ở quê nhà.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Chuyện về người chiến sĩ thoát chết nhờ dân | Câu chuyện thời hoa lửa