Bài viết

Chuyện về người lái chiếc xe tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975

Ông Nguyễn Văn Tập, người lái chiếc xe tăng 390, húc đổ cổng chính Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975 kể: Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo ở thôn Đại Tĩnh, xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

Ninh Bình05/07/2026Đoàn xã Hải An (Đoàn xã Hải An)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Học xong lớp 7, tôi được tuyển vào Trường Cơ khí II, đóng ở tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 1970, cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt, đặc biệt chiến trường miền Nam đang bước vào giai đoạn quyết liệt, rất cần sự chi viện sức người, sức của từ hậu phương miền Bắc. Là một trong những học sinh không thuộc diện tuyển nghĩa vụ quân sự (vì gia đình tôi có hai anh đang chiến đấu ở chiến trường miền Nam). Nhưng với tinh thần “đâu có giặc là ta cứ đi”, tôi đã viết quyết tâm thư gửi lên lãnh đạo nhà trường, với mong muốn được nhập ngũ vào Nam đánh giặc. Sau hai lần gửi quyết tâm thư, nguyện vọng của tôi mới đạt được.

Thời gian đầu mới nhập ngũ, tôi được phân công vào đơn vị huấn luyện bộ binh 325 tại Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Huấn luyện xong, tôi được tuyển vào bộ đội xe tăng Tiểu đoàn 512, thuộc Trung đoàn 203 xe tăng. Kết thúc thời gian huấn luyện, giữa năm 1971, đơn vị của chúng tôi nhận nhiệm vụ vào Nam chiến đấu. Thời gian ấy, Trung đội xe tăng của chúng tôi thuộc Đại đội Tăng 4, Tiểu đoàn Tăng 1, Lữ đoàn xe tăng 203, Quân đoàn II. Xe tăng của tôi mang biển hiệu 390, gồm có Trung úy Vũ Đăng Toàn, chính trị viên Đại đội, kiêm trưởng xe; Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên, pháo thủ số 1; Thiếu úy, Lê Văn Phượng, Phó Đại đội trưởng kĩ thuật, kiêm pháo thủ số 2 (thay pháo thủ số 2 bị thương); cuối cùng là trung sĩ lái xe là tôi-Nguyễn Văn Tập.

Sau khi Hiệp định Paris (năm 1973), Đại đội 4, Tiểu đoàn 4, thuộc Lữ đoàn xe tăng 203 của chúng tôi rút về A Sầu, A Lưới (Quảng Trị) để huấn luyện, củng cố lực lượng, chuẩn bị sẵn sàng cho nhiệm vụ chiến đấu sắp tới. Tháng 3/1975, cả đơn vị của tôi bước vào những trận chiến đấu mới. Hai ngày 17 và 18/3, chiến đấu tiêu diệt địch ở núi Bông, núi Nghệ (phía Tây Nam Huế) và tiến vào giải phóng TP Huế. Ngày 25/3/1975 đơn vị chúng tôi tham gia chiến đấu giải phóng TP Đà Nẵng. Sau đó đơn vị củng cố, bổ sung đạn dược và quân số. Lúc này Đại đội 4, Tiểu đoàn 4 của tôi được chuyển về Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Tăng 203. Đầu tháng 4, đơn vị chúng tôi tiếp tục hành quân thần tốc, chiến đấu giải phóng các địa phương: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Phan Rang, Phan Thiết, Bình Thuận, Ninh Thuận, Đồng Nai.

Ngày 26/4/1975, toàn bộ Lữ đoàn tăng 203 của tôi bắt đầu nhận nhiệm vụ mới: Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ba ngày sau, Đại đội 4 đã giải phóng được căn cứ Nước Trong, Trường sĩ quan thiết giáp của địch, tạo mũi thọc sâu cho Quân đoàn 2. Khoảng 7 giờ sáng ngày 30/4/1975, Đại đội 4 xe tăng của ta đã chiếm được đầu cầu Sài Gòn. Lúc này Đại đội 2 và Đại đội 3 thuộc Tiểu đoàn 1 xe tăng của chúng ta bị địch phản công quyết liệt. Xe tăng của Đại đội 3 bị địch bắn cháy nhiều chiếc. Đồng chí Ngô Quang Nhỡ, Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 1 đã anh dũng hi sinh ngay tại đầu cầu Sài Gòn. Với lực lượng xe tăng của ta hùng hậu, lại có pháo binh từ xa yểm trợ, nên chúng tôi đã đè bẹp quân địch ngay tại chân cầu Sài Gòn. Từ đó xe tăng của chúng tôi vượt qua cầu, tiến về nội thành.

Thực hiện mệnh lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp “Thần tốc, thần tốc hơn nữa! Táo bạo, táo bạo hơn nữa!”, 7 xe tăng của Đại đội 4 chia thành hai hướng khác nhau tiến vào nội thành Sài Gòn. Xe tăng chúng tôi tiến đến ngã tư Hàng Xanh thì bất ngờ gặp 2 xe tăng M-113 của địch lao ra cản đường. Chiếc xe tăng 390 của tôi bắn một quả đạn xuyên, tiêu diệt tại chỗ 2 xe tăng của địch.

Khi gần đến Dinh Độc Lập, xe chúng tôi phát hiện xe tăng 843 của đồng chí Bùi Quang Thận đang tiến về hướng cổng Dinh Độc Lập, không hiểu sao lại rẽ sang cổng phụ rồi dừng lại. Thấy vậy tôi hỏi đồng chí Toàn: Thế nào anh? Đồng chí cứ tông thẳng vào! Ngay lập tức, tôi nhấn ga tông thẳng vào cổng chính Dinh Độc Lập và đưa xe tăng vào trong sân. Xe tăng vừa dừng, đồng chí Vũ Đăng Toàn liền cầm cờ Giải phóng nhảy trên mui xe xuống định chạy lên cắm cờ. Thấy thế, đồng chí Phượng ngăn lại và trao đổi nhanh với đồng chí Toàn: Đồng chí Thận đang cầm cờ Giải phóng chạy phía sau, anh em mình nên ở lại xe dùng pháo 12,7 li yểm trợ cho đồng chí ấy lên cắm cờ. Đồng chí Toàn gật đầu nhất trí. Vừa lúc đó, đồng chí Thận cầm cờ chạy đến xe tăng 390 của chúng tôi, đồng chí Toàn cầm khẩu AK chạy theo yểm trợ cho đồng chí Thận.

Vào trong Dinh Độc Lập, đồng chí Thận bảo người lính ngụy đang gác ở cầu thang dẫn mình lên cắm cờ trên đỉnh Dinh Độc Lập. Còn đồng chí Toàn bước vào phòng họp khống chế toàn bộ nội các Dương Văn Minh. Khoảng mười phút sau, đồng chí Trung tá Bùi Văn Tùng, Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 và một tiểu đội quân Giải phóng, súng AK cầm chắc trong tay đã có mặt kịp thời. Đồng chí Tùng khống chế Tổng thống Dương Văn Minh ra Đài phát thanh Sài Gòn đọc bản tuyên bố đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Chuyện về người lái chiếc xe tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975 | Câu chuyện thời hoa lửa