Chuyện về người lính trẻ tuổi nhất trong lực lượng đặc công biệt động Sài Gòn"Chiến đấu để trả thù cho người thân, cho Tổ quốc"
Cuộc đời ông, suốt gần 20 năm hoạt động ở nội đô, trải qua bao biến thiên của lịch sử, cảm nhận rõ mồn một sự tổn thất của lực lượng biệt động Sài Gòn-Gia Định, nhất là giai đoạn sau năm Mậu Thân 1968, ông càng thấm thía sự may mắn của mình.
Cuộc đời ông, suốt gần 20 năm hoạt động ở nội đô, trải qua bao biến thiên của lịch sử, cảm nhận rõ mồn một sự tổn thất của lực lượng biệt động Sài Gòn-Gia Định, nhất là giai đoạn sau năm Mậu Thân 1968, ông càng thấm thía sự may mắn của mình.
Cất giọng sang sảng, ông chậm rãi bảo, trong trận đánh đầu tiên bằng lựu đạn diệt tên quận trưởng ác ôn, về đến căn cứ an toàn nhưng đội mới phát hiện ra một sai sót nghiêm trọng, suýt nữa phải trả giá đắt. Chuyện là, một trong hai quả lựu đạn ông dùng để tần công là lựu đạn mỏ vịt do Liên Xô sản xuất có đặc điểm khi buông ra khỏi bàn tay là hạt nổ nổ ngay cạnh bàn tay sau đó qua dây cháy chậm từ 3-4 giây mới gây nổ nguyên trái. Do nổ ngay khi buông ra khói thuốc xịt vào bàn tay cầm lựu đạn nên mùi thuốc súng chính là tang chứng. Nếu bị địch nghi ngờ là thủ phạm đưa kiểm tra chắc chắn không thể chối cãi được.
"Bài học này được Đội biệt động 66 báo cáo Bộ Chỉ huy nhằm rút kinh nghiệm cho các đội khác hoặc các lực lượng bí mật hoạt động tại vùng địch kiểm soát nếu có dùng lựu đạn loại mỏ vịt phải lưu ý", ông nói.
Chúng tôi hỏi về sự liều lĩnh của chàng thanh niên trẻ khi đó, ông bảo, nung nấu được tham gia cách mạng ngấm vào ông từ tấm bé. Vào chiến trường, còn sống trở về là may rủi vì già trẻ, lớn bé đều xác định mình có thể hy sinh bất kỳ lúc nào.
Điều ông vô cùng tự hào, chính là gia đình đều nguyện một lòng theo kháng chiến, theo Đảng, theo cách mạng, theo Bác Hồ. Bà nội ông là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Hồ Thị Chức, mẹ cũng là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Tạ Thị Thủy. Tám anh em của ông đều thoát ly tham gia cách mạng và đều là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó có 5 người phục vụ trong lực lượng vũ trang, có 3 anh, chị hy sinh được công nhận là liệt sĩ. "Có gia đình là điểm tựa, tôi chẳng hề run sợ gì", ông khảng khái nói.
Sau ngày 30/4/1975, ông công tác tại Quận đội 11 làm nhiệm vụ Quân báo-Trinh sát. Từ năm 1985 đến năm 2007 là Trợ lý, Phó Ban và Trưởng Ban Quân báo Phòng Tham mưu Bộ Chỉ huy Quân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 5/2007, ông Nguyễn Đức Hiệp nghỉ hưu hưởng chế độ, với cấp hàm Trung tá.



