Bài viết

CHUYỆN VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ KIÊN TRUNG

Cần Thơ22/10/2026Phường Tân Triều (Đoàn phường Tân Triều)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sinh năm 1940, trong gia đình giàu truyền thống cách mạng ở huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau (nay là xã Phan Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau), từ nhỏ, Trần Thị Ngoan đã sớm được hun đúc lòng yêu nước qua những câu chuyện kháng chiến của cha và các chú. Những lần ngồi châm trà, lắng nghe người lớn bàn chuyện đánh giặc đã gieo vào lòng cô gái trẻ niềm tin và ý chí dấn thân vì quê hương. Năm 1956, giữa những năm tháng địch đàn áp phong trào cách mạng bằng chính sách “Tố cộng, diệt cộng”, Trần Thị Ngoan cùng các mẹ, các chị tham gia đấu tranh chính trị, đòi địch thi hành Hiệp định Giơnevơ. Nhận thấy cô gái trẻ lanh lợi, khôn khéo và gan dạ, cấp ủy xã giao nhiệm vụ làm giao liên, nắm tình hình địch; đồng thời, đổi tên thành Cúc để bảo đảm bí mật.

Cà Mau khi ấy là vùng căn cứ kháng chiến, thường xuyên hứng chịu những cuộc càn quét, đánh phá của địch. Để che mắt chúng, bác Sáu ngụy trang thành người đi mua bán bánh, trái cây, len lỏi qua những nơi địch kiểm soát để đưa tin, giữ liên lạc với cơ sở cách mạng. Không ít lần bị lính đồn trú nghi ngờ, chặn hỏi, khám xét, bác vẫn bình tĩnh ứng phó, bảo vệ an toàn cho đồng đội và nhiệm vụ được giao. “Có lần địch càn quét, tôi và 3 đồng chí lãnh đạo xã xuống hầm bí mật. Tay tôi cầm sẵn trái lựu đạn, nếu bị phát hiện sẽ rút chốt cùng chết. Lần khác, tôi bị địch bắt tra hỏi nhưng do không tìm được chứng cứ nên chúng thả ra”, bác Sáu nhớ lại.

Những lần đối mặt với hiểm nguy khiến ranh giới giữa sự sống và cái chết trở nên mong manh. Thế nhưng, người nữ giao liên vẫn vững vàng, lạc quan, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ. Với bác Sáu, đã nhận nhiệm vụ thì phải tìm mọi cách hoàn thành, dù phải đối mặt với gian khổ, hy sinh. Ngày 29/4/1961, dấu mốc không thể phai mờ trong cuộc đời bác Sáu. Hôm ấy, bác vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. “Đồng chí Bí thư Chi bộ xã đọc tóm tắt tiểu sử, rồi công bố kết nạp Đảng viên mới. Tôi nắm chặt bàn tay, giơ cao, mắt hướng về Cờ Đảng tuyên thệ: tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng”, bác Sáu bồi hồi kể. Lời thề giữa những năm tháng chiến tranh ấy không dừng lại ở khoảnh khắc kết nạp Đảng. Nó được tôi luyện qua từng chuyến giao liên, mỗi lần đối mặt với địch, qua những tháng ngày thiếu thốn và cả những lựa chọn không dễ dàng giữa việc nhà, việc nước. Khi được gặp, trò chuyện với bác Sáu, tôi càng thêm kính phục bác. Trước mắt tôi không chỉ là người nữ đảng viên 65 năm tuổi Đảng, mà còn là một nhân chứng sống của lịch sử, người con kiên trung của quê hương vùng cực Nam Tổ quốc. Qua từng câu chuyện bác kể, những năm tháng đấu tranh gian khổ như hiện về, để tôi thêm thấm thía giá trị của niềm tin, lòng thủy chung và sự hy sinh của thế hệ đi trước.

Trở thành đảng viên, bác Sáu càng hăng say công tác. Mùa nước chèo xuồng, mùa khô băng đồng hàng chục cây số, bằng mọi cách bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt. Đói thì hái trái cây, ăn rau lót dạ; khát thì uống tạm ngụm nước sông quê. Những nhọc nhằn của cuộc sống nơi chiến khu không làm người nữ đảng viên chùn bước. Năm 1963, được tổ chức giới thiệu, bác Sáu kết duyên với đồng chí Huỳnh Xuân Quang, bí danh Sáu Hoài, quê Bến Tre, cán bộ tập kết, sau này là Thiếu tướng, nguyên Phó Tư lệnh về Chính trị Mặt trận 979 (Quân khu 9).

Tình yêu của họ được vun đắp giữa những tháng ngày xa cách. Vì nhiệm vụ cách mạng, hai người ít dịp gặp nhau. Những lá thư gửi trao, lời động viên ân cần và món quà trở thành nguồn an ủi, tiếp thêm sức mạnh để mỗi người vững vàng trên con đường đã chọn. Chồng đi chiến đấu xa nhà, bác Sáu vừa công tác, vừa tảo tần chăm lo gia đình. Những buổi sớm lặn lội bắt cá, mò cua, những ngày chắt chiu từng bữa ăn, chăm sóc con thơ đã trở thành nhịp sống quen thuộc. Bác vừa làm tròn bổn phận người mẹ, vừa gánh vác phần trách nhiệm của người cha, để chồng yên tâm thực hiện nhiệm vụ.

Chiến tranh ngày càng ác liệt. Địch liên tiếp mở các đợt càn quét, đánh phá vùng căn cứ, sử dụng cả chất độc hóa học để hủy diệt môi trường sống, truy lùng cán bộ cách mạng. Nhiều cơ sở bị vây ráp, cán bộ bị bắt, hy sinh. Căn nhà tạm của gia đình bác Sáu nhiều lần dựng lên rồi lại đổ xuống sau những trận càn. Nhưng dù hoàn cảnh khó khăn đến đâu, bác vẫn kiên cường bám trụ, giữ vững niềm tin vào ngày quê hương được giải phóng.

Một trong những kỷ niệm sâu sắc bác Sáu nhớ mãi là năm 1968, đồng chí liên lạc đến đón hai mẹ con vào căn cứ. Trên đường đi không may gặp địch càn quét, đạn nổ vang rền. “Tôi nghe đau rát bên sườn, trên đầu có máu chảy. Còn thằng Thắng (02 tuổi) đang ẵm trên tay khóc thét: má ơi kiến cắn đau quá. Tôi kêu đồng chí liên lạc bỏ xuồng nhảy xuống mương tránh đạn. Lúc sau địch đến bắt hai mẹ con. Tôi bình tĩnh nói với chúng: “Các ông đánh nhau với Việt Cộng sao bắn bị thương người dân”. Không tìm được bằng chứng nghi ngờ, chúng băng bó vết thương trên đầu tôi rồi bỏ đi. Tôi tưởng máu trên đầu chảy xuống người con, đâu ngờ thằng Thắng bị viên đạn xuyên qua vai, mất máu nhiều nên ngất lịm. “Nhờ bà con dùng xuồng máy đưa đến trạm quân y cấp cứu kịp thời nên Thắng qua cơn nguy kịch””. Người con bác sáu bồng trên tay năm xưa trong câu chuyện kể, nay là Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng, nguyên UVTƯ Đảng, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam.

Có những lúc, nhiệm vụ cách mạng đòi hỏi bác phải gác lại nỗi lòng riêng. Năm 1971, khi tham gia đấu tranh chính trị do Hội Phụ nữ huyện Ngọc Hiển phát động, bác đưa các con xuống hầm trú ẩn, chuẩn bị sẵn ít lương khô rồi dặn cô con gái (chị Hai Xuân) ở nhà trông hai em. Bác căn dặn, nếu trời tối mà mẹ chưa về thì con hãy la lớn để mọi người nghe thấy, đến cứu giúp. Người mẹ ấy hiểu những hiểm nguy đang chờ phía trước, nhưng vẫn phải lên đường. Ở nhà, ba đứa trẻ ngóng mẹ giữa nỗi lo của một ngày dài. Còn bác Sáu, trong cuộc đấu tranh, chỉ một lòng hướng về nhiệm vụ được giao. “Lúc đó tôi chỉ nghĩ đến nhiệm vụ Đảng giao. Bởi làm cách mạng không thể vì việc nhà mà quên việc nước”, bác Sáu chia sẻ.

Câu nói chân thành ấy gợi nhớ hình ảnh người phụ nữ miền Nam trong chiến tranh: Kiên cường đấu tranh, tảo tần chăm lo từng bữa ăn, giấc ngủ cho con; sẵn sàng nhận nhiệm vụ cách mạng nhưng lòng vẫn canh cánh nỗi niềm của người mẹ khi phải xa con. Ở bác Sáu, đức hy sinh không tách rời lòng kiên trung; tình yêu gia đình hòa quyện với tình yêu quê hương, đất nước, làm sáng ngời phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam

Hòa bình lập lại, bác Sáu được tổ chức phân công công tác tại Công an xã Tân Thuận, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau; một năm sau, được điều động giữ chức Trưởng Công an phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ. Trong bối cảnh tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội còn phức tạp, đời sống Nhân dân gặp nhiều khó khăn, bác cùng đồng đội vừa kiên quyết đấu tranh với tội phạm, vừa chú trọng tuyên truyền, vận động quần chúng, góp phần giữ gìn bình yên địa bàn.

Sau đó, được Đảng bộ giao nhiệm vụ Chủ tịch UBND phường Bình Thủy, bác tiếp tục nỗ lực cùng tập thể lãnh đạo địa phương chăm lo đời sống Nhân dân. Từ việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân đến triển khai các chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh trật tự, bác luôn đề cao tinh thần trách nhiệm, gần dân và lắng nghe dân. Ở cương vị công tác nào, bác cũng tâm niệm người cán bộ phải đặt lợi ích của Nhân dân lên trên hết. Những năm tháng chiến tranh đã giúp bác thấu hiểu giá trị của cuộc sống bình yên, của tình đồng chí, nghĩa đồng bào và sự chở che mà Nhân dân dành cho cách mạng.

Phía sau những nhiệm vụ ở cơ quan, gia đình bác vẫn còn bộn bề khó khăn. Từ Cà Mau lên TP. Cần Thơ lập nghiệp, không có người thân, đồng lương ít ỏi, chồng thường xuyên đi công tác xa nhà, năm người con cần được chăm sóc, trong đó con út hay đau ốm. Những lúc tưởng chừng không thể vượt qua, gia đình lại nhận được sự giúp đỡ của chòm xóm, sự quan tâm của đồng chí, đồng đội. “Nghĩa tình cao quý ấy tôi luôn ghi nhớ trong lòng”, bác Sáu xúc động kể.

Khi cuộc sống dần ổn định, bác Sáu luôn nghĩ đến những người còn vất vả quanh mình. Bác tích cực đóng góp cho các hoạt động an sinh xã hội, từ bắc cầu, sửa đường, hỗ trợ hộ nghèo đến tặng quà học sinh hiếu học. Mỗi phần quà tuy không lớn nhưng chứa đựng sự sẻ chia chân thành của người từng hiểu sâu sắc giá trị tình người. “Ngày trước mình thiếu trước hụt sau, được bà con giúp đỡ, nay có điều kiện thì chia sẻ, của ít lòng nhiều, lá lành đùm lá rách”, bác Sáu cười hiền. Nay dù tuổi cao, bác vẫn minh mẫn, thường xuyên theo dõi tin tức, thời sự, quan tâm đến tình hình địa phương và đóng góp những ý kiến tâm huyết với cấp ủy, chính quyền. Với con cháu, bác luôn nhắc phải chăm lo học tập, rèn luyện, sống có trách nhiệm, hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và Quân đội giao. Trong gia đình, bác Sáu cũng là người phụ nữ vun vén tổ ấm, giữ gìn nền nếp và truyền lại cho con cháu những kinh nghiệm suốt cuộc đời: Lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm, sự thủy chung và đức nhân hậu.

Bác là vợ của cố Thiếu tướng Huỳnh Xuân Quang, nguyên Phó Tư lệnh về Chính trị Mặt trận 979 (Quân khu 9), là mẹ của hai vị tướng: Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng, nguyên UVTƯ Đảng, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam và Thiếu tướng Huỳnh Chiến Công, Phó Tham mưu trưởng Quân khu 9. Những dấu ấn ấy là niềm tự hào của gia đình, đồng thời cho thấy sự tiếp nối của truyền thống cách mạng qua các thế hệ. Phía sau những người con trưởng thành là bóng dáng người mẹ từng chịu thương, chịu khó, bền bỉ chăm lo gia đình và dạy con bằng chính cuộc đời mình.

Từ lời thề dưới lá Cờ Đảng ngày 29/4/1961 đến mái ấm gia đình giàu truyền thống, cuộc đời bác Sáu là hành trình bền bỉ của niềm tin và sự cống hiến. Bác đã đi qua chiến tranh, đảm đương nhiều nhiệm vụ sau ngày đất nước thống nhất, vượt lên những nhọc nhằn của cuộc sống để giữ trọn lời thề, vun đắp gia đình và sẻ chia với cộng đồng. 65 năm tuổi Đảng, bác Sáu vẫn giữ nguyên sự mộc mạc của người phụ nữ miền Tây, sự thủy chung của người vợ, tình yêu thương của người mẹ và lòng kiên trung của người đảng viên.

Cuộc đời bác là minh chứng những giá trị cao đẹp không chỉ được thể hiện qua những năm tháng cống hiến cho đất nước, mà còn được gìn giữ trong từng việc làm bình dị, trong cách nuôi dạy con cháu và trong tấm lòng luôn hướng về mọi người. Đó cũng chính là vẻ đẹp, niềm tự hào của người phụ nữ Việt Nam với Tám chữ vàng Bác Hồ từng khen ngợi: “Anh hùng – Bất khuất – Trung hậu – Đảm đang”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn