Chuyện về “Nguyễn Hữu Tiến - người vẽ cờ Tổ quốc”
Chuyện về “Nguyễn Hữu Tiến - người vẽ cờ Tổ quốc”
Nhà cách mạng Nguyễn Hữu Tiến sinh năm 1901 tại làng Lũng Xuyên, Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình). Sớm có lòng yêu nước, trong thời gian mở trường dạy học ở quê nhà, ông giáo dục cho thanh niên tình yêu quê hương, Tổ quốc.
Năm 1927, Nguyễn Hữu Tiến tham gia hoạt động cách mạng ở địa phương và được kết nạp vào Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội. Cuối năm 1929, ông gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng và là một trong những người thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở huyện Duy Tiên. Sau đó, ông được bầu làm Phó Bí thư Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam.
Ông quan niệm: "Đi làm cách mạng để đòi cái quyền cao nhất là độc lập dân tộc và tự do cho nhân dân. Người cách mạng phải luôn học hỏi để hiểu biết rộng, biết lý luận cách mạng".
Ngày 25/5/1931, do có kẻ phản bội, ông bị bắt ở Hà Nội, kết án tù khổ sai chung thân và đày đi Sơn La, sau đó giam ở Côn Đảo vào cuối năm 1933. Tháng 4/1935, ông và một số đồng chí khác vượt ngục thành công, trở về hoạt động cách mạng.
Một thời gian sau, ông được bầu vào Xứ ủy Nam Kỳ và làm Bí thư liên tỉnh Đảng bộ Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá. Mùa đông năm 1939, ông phụ trách công tác tuyên huấn của Xứ ủy Nam Kỳ.
Theo sách, trước ngày Nam Kỳ khởi nghĩa, Nguyễn Hữu Tiến đã vẽ một lá cờ đỏ, đính ngôi sao vàng năm cánh ở giữa, ý nghĩa cờ được ông viết trong thơ: "Hỡi những ai máu đỏ da vàng/ Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc/ Nền cờ thắm máu đào vì nước/ Sao vàng tươi da của giống nòi". Ngôi sao năm cánh tượng trưng cho các tầng lớp nhân dân: sĩ, nông, công, thương, binh, ông hy vọng người Việt Nam sẽ "đoàn kết lại như sao vàng năm cánh". Ông cho in cờ ra nhiều bản và chuyển xuống các cơ sở bí mật. Mẫu cờ được Xứ ủy Nam Kỳ nhất trí và xuất hiện lần đầu trong khởi nghĩa Nam Kỳ ngày 23/11/1940.
Tuy nhiên, công việc gần xong thì cơ quan bị tập kích, không ai chạy thoát. Ông cùng nguyên Tổng Bí thư Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai bị bắt, chịu nhiều tra tấn của địch nhưng quyết không tiết lộ thông tin cách mạng.
Trong tù, người chiến sĩ giữ tinh thần, tranh thủ hỏi han tình hình khởi nghĩa. Theo tác phẩm, khi ấy, "đồng chí nào cũng say sưa, hào hứng kể về khí thế dân chúng nổi dậy khi được lệnh khởi nghĩa truyền đến. Các ông già chặt tầm vông làm gậy, thu thập các con dao mác, rựa quắm làm vũ khí. Các bà già thì nấu những bung cơm, nắm với thịt lợn, thịt gà kho khô tiếp tế cho anh chị em đi cướp chính quyền quận, tỉnh. Nhân dân góp mâm thau, nồi đồng, dao, rựa và các dụng cụ bằng sắt cho xưởng đúc".
Dù biết bản thân phải đối mặt án tử, ông vẫn lạc quan, tập thể dục buổi sáng đều đặn, mượn báo, đọc sách. Ông nói: "Chừng nào tôi còn nhìn thấy ánh sáng mặt trời, tim tôi còn đập thì tôi còn nghĩ về cuộc sống, nghĩ về con người và nghĩ về đất nước của tôi". Ông chỉ khóc khi nghe tin cờ đã bay lên trong cuộc khởi nghĩa."Cờ đỏ sao vàng đã bay lên rồi! Tổ quốc! Cờ Tổ quốc đã bay lên rồi! Tôi không được có mặt ở cái phút đầu cờ Tổ quốc bay lên giữa bầu trời". Nguyễn Hữu Tiến và đồng chí Phan Văn Đại khóc, cùng mơ về ngày "lớp lớp cờ đỏ sao vàng bay rợp trời Tổ quốc".
Trong thơ vĩnh biệt, ông nhắn nhủ: "Vĩnh biệt hôm nay có mấy lời/ Nhắn cùng đồng chí khắp nơi nơi/ Tinh thần để lại cho non nước/ Thù hận ghi sâu giữa đất trời/ Án chém Hà Nam đà rũ sạch/ Khổ sai Côn Đảo đã qua rồi/ Anh em đi trọn con đường nhé/ Cờ đỏ sao vàng sáng tương lai".
Những vần thơ là niềm tin ông gửi lại cho đồng đội về ngày đất nước độc lập, lá cờ đỏ sao vàng trở thành biểu tượng thiêng liêng của dân tộc. Ngày nay, cờ Tổ quốc vẫn tung bay trong mỗi khoảnh khắc trọng đại. Dịp kỷ niệm Quốc khánh 2/9, người dân đổ ra khắp nẻo đường, mặc trang phục, đeo phụ kiện hình lá cờ, vẫy cờ đón đoàn diễu binh, diễu hành đi qua.


