Chuyện về nữ Anh hùng Hồ Thị Kim Thanh
Vết thương chưa lành trên thân thể Trên chiếc bàn gỗ bạc màu đặt giữa phòng, tôi chú ý đến cuốn sách có tựa đề: “Sống trong lòng dân”. Đó là cuốn hồi ký của bà, được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân in ấn và phát hành. Lật mở từng trang sách, tôi thấy rõ hiện thực khốc liệt của chiến tranh bởi những trận càn quét, giết hại dân lành của quân giặc. Chính những trang sách ấy đã giúp tôi hiểu sâu hơn về cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian khổ, mất mát hy sinh nhưng dũng cảm, kiên cường của bà…
“Cuộc đời Anh hùng Hồ Thị Kim Thanh là một hành trình cống hiến không một ngày ngơi nghỉ, nối dài từ thuở thiếu thời cho đến những năm tháng xế chiều”. Năm bà 12 tuổi đã biết băng rừng lội suối làm giao liên mật cho Huyện ủy Tam Kỳ. Từ năm 1955 đến 1975, trọn vẹn suốt 20 năm kháng chiến chống Mỹ, bà trải qua nhiều nhiệm vụ và khi đất nước thống nhất, người phụ nữ ấy vẫn miệt mài cống hiến cho công tác kiểm tra Đảng của Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng, rồi lại lặn lội với từng con hẻm, góc phố ở Đà Nẵng để làm công tác dân vận bằng tất cả cái tâm của một người đi trước.
Bước sang tuổi 57, sau khi nhận quyết định nghỉ hưu vào năm 2000, nhưng Anh hùng Hồ Thị Kim Thanh không cho phép mình “ngơi nghỉ”. Bà tiếp tục tham gia hoạt động đoàn thể ngay tại địa phương. Suốt nhiều năm sau đó, bà giữ chức bí thư chi bộ khối phố 10, khối phố 13, rồi làm Chi hội trưởng Hội Cựu chiến binh phường Hải Châu I. Dù nơi đâu, hay bất cứ vị trí nào bà luôn nêu cao vai trò trách nhiệm, cống hiến hết mình cho tổ chức, cho tập thể.
Ở độ tuổi ngoài 80 nhưng bà vẫn rất minh mẫn. Khi tôi hỏi về những vết thương từ thời chiến tranh, giọng bà nhỏ nhẹ: “Trái gió, trở trời là cái đầu lại nhức buốt. Thủ phạm chính là những ria của mảnh đạn năm xưa găm vào, giờ nó vẫn nằm im trong da đầu đấy cháu ạ!”.
Lắng nghe bà kể, tôi như hình dung ra vóc dáng nhỏ bé của người con gái ấy trước những mất mát tột cùng của cuộc chiến. Ba mẹ hy sinh, anh chị em tập kết ra Bắc, trong này còn có mình bà. Lòng dũng cảm và căm thù giặc đã tôi luyện nên một tinh thần thép từ thuở bà mới 12 tuổi. Ánh mắt kiên định, bà nói: “Hồi đó bom đạn giặc dữ lắm, nhà cửa sập, người thân ngã xuống. Nhưng chúng nó chỉ cướp được thể xác, phá được nhà cửa thôi, chứ làm sao khuất phục được cái gan, cái chí của tôi. Còn gì để mất ngoài lòng yêu nước đâu, nên kiên quyết ở lại giữ đất, giữ làng, hoạt động cách mạng, tôi không sợ gì hết!”. Nghe bà kể chuyện, tôi hiểu rằng bom đạn kẻ thù có thể lấy đi của bà những người thân yêu, nhưng lại bất lực trước lòng yêu nước sắt son và sự dũng cảm kiên cường của người con gái “đất Quảng” năm nào.
Ký ức về một thời lửa đạn
Căn phòng nhỏ lặng đi khi bà kể về những ký ức mộc mạc nhưng khốc liệt của chiến tranh. Bà bảo, bà chẳng nhớ mình được nhận bao nhiêu tấm huân chương, nhưng cái cảm giác ấm nóng trên lưng trong một trận đánh năm xưa thì mãi mãi không bao giờ quên được. Yên lặng hồi lâu, bà chậm rãi kể… “Trong trận đánh tại đồn Phước Lâm (Huyện Tiên Phước – Quảng Nam, nay thuộc xã Tiên Phước – TP Đà Nẵng) vào cuối năm 1961, lúc đó đạn địch bắn xối xả, đồng đội bị thương nặng, tôi chạy ra lần lượt cõng 3 đồng chí vào chữa trị, sau đó hỗ trợ thêm 2 đồng chí nữa. Lúc đó không hề biết mệt là gì, bộ đội mình bị thương nặng nhiều lắm. Lúc tôi cõng thương binh, máu của đồng đội đổ ra thấm ướt cả lưng áo, nhưng cố gắng chạy thật nhanh để đưa được đồng đội vào vị trí an toàn sớm nhất” - Giọng bà nghẹn lại.
Nghe bà kể, tôi tưởng tượng hình ảnh một cô gái mảnh khảnh, nhưng với sức mạnh phi thường không quản hiểm nguy để giành giật sự sống cho 5 đồng đội từ tay tử thần. Với những người chiến sĩ trên chiến trường Khu 5 ngày ấy, tình đồng chí, đồng đội được đánh đổi bằng xương, bằng máu và cả sự mất mát, hy sinh..



