Chuyện về nữ biệt động Sáu Túy
6 người thân ngã xuống, chỉ còn một người ở lại. Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, cựu nữ biệt động Sài Gòn Lại Thị Kim Túy (biệt danh Sáu Túy, sinh năm 1948, thương binh hạng 4/4, quê ở xã Hậu Nghĩa, tỉnh Tây Ninh, hiện ở phường Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh) vẫn lặng lẽ đi tìm hài cốt đồng đội, chăm sóc thân nhân liệt sĩ và dành gần như toàn bộ khoản trợ cấp của mình để giúp đỡ những mảnh đời khó khăn...
Gia đình có 6 liệt sĩ
Con gái nuôi của bà Lại Thị Kim Túy đang bán hàng ở quầy tạp hóa nhỏ phía trước nhà, thấy chúng tôi đến, chị bước vào trong gọi lớn: “Má ơi, có khách tới!”. Lát sau, bà Túy từ căn phòng phía sau chậm rãi đi ra. Người phụ nữ gần 80 tuổi có dáng người cao, gầy. Bà chống nhẹ tay vào thành ghế rồi mời chúng tôi ngồi xuống bộ bàn ghế gỗ đã sẫm màu theo năm tháng. “Uống ly trà con nghe”, bà Túy cười hiền.
Trên 4 bức tường nhà là hàng chục huân chương, huy chương, bằng khen, giấy ghi nhận và ảnh chụp với đồng đội, đồng chí qua nhiều thời kỳ. Ánh mắt chúng tôi dừng lại thật lâu trước 6 tấm bằng "Tổ quốc ghi công" được treo cạnh nhau. 6 liệt sĩ ấy là người cha, 3 người anh trai, người em gái và người chồng của bà. Cha của bà là Lại Bá Y (sinh năm 1907), thuộc Đội 5 Biệt động Sài Gòn, hy sinh năm 1968. Trong lúc làm nhiệm vụ, ông bị địch pháo kích vào căn cứ. Anh cả Lại Bá Huynh (sinh năm 1938), hy sinh năm 1966 khi tham gia đánh đồn ấp Lập Điền, xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (nay là xã Hậu Nghĩa, tỉnh Tây Ninh). Người anh thứ hai Lại Bá Hộ (sinh năm 1942), hy sinh năm 1962, trong một trận chống càn. Anh trai thứ ba Lại Bá Nghi (sinh năm 1945), hy sinh năm 1972, trong một đợt chống càn, bị địch bắn gãy chân. Địch cột chân ông rồi kéo đi. Khi địch không thể kéo được nữa thì bắn vào tim ông. Em gái Lại Thị Út (sinh năm 1952), hy sinh năm 1968 do trúng pháo kích địch khi trên đường trở về sau chuyến công tác. Người chồng Phạm Văn Mại (sinh năm 1938) hy sinh năm 1967, ngã xuống trong một chuyến trinh sát, bị trực thăng địch phát hiện và xả đạn...

Bà Lại Thị Kim Túy (ngoài cùng, bên phải) trong những ngày chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng Đỗ Thị Cúc (thứ hai, từ phải sang). Ảnh do nhân vật cung cấp
Thấy chúng tôi lặng người trước bức tường, bà Túy khẽ nói: “Khi mẹ mất, căn nhà chỉ còn cô...”. Nói rồi bà im lặng. Thế rồi những năm tháng sau này, bà Túy sống đúng với điều mình trăn trở, canh cánh trong lòng. Nếu ngày trước bà cầm súng bước vào chiến tranh, thì những năm tháng hòa bình, bà lại bước vào một hành trình đi tìm những người chưa kịp trở về. Có khi, hành trình ấy bắt đầu từ một cái tên viết chưa đủ, một địa danh đã đổi khác hay một lời kể ngắt quãng của đồng đội cũ. Bà lần theo từng manh mối, gặp từng nhân chứng, đối chiếu từng thông tin. Với những gia đình gặp khó khăn trong việc xét nghiệm ADN, bà sẵn sàng hỗ trợ thủ tục, kinh phí. Bà Túy bảo: “Người đã hy sinh xứng đáng được gọi đúng tên, còn người ở lại cũng cần biết tin để thôi ngóng đợi”.
Nhắc đến 38 đồng đội hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 trên địa bàn phường Phú Thạnh (TP Hồ Chí Minh), bà Túy vẫn không giấu được nỗi day dứt. Bởi chính bà và đồng đội là những người trực tiếp chôn cất các liệt sĩ năm ấy. Rồi đơn vị rút đi, chiến tranh cuốn mọi người sang những trận đánh khác. Khi hòa bình lập lại, bà trở về thì nơi ấy đã thành khu dân cư. Có người bảo mộ đã được bốc. Bà hỏi bốc đi đâu, an táng ở nghĩa trang nào, là mộ có tên hay mộ vô danh... thì không ai trả lời được. Mãi sau này mới rõ, thời điểm người dân xây nhà, nhiều người không hề biết dưới nền đất ấy từng có các liệt sĩ nằm lại. Sự thật ấy khiến bà Túy đau đáu suốt nhiều năm. Cùng đồng đội và chính quyền địa phương, bà kiên trì thu thập tài liệu, hoàn thiện hồ sơ để xác nhận nơi đây là địa điểm có 38 chiến sĩ hy sinh. Đến nay, hằng năm vào ngày 13 tháng Giêng, lễ giỗ chung vẫn được tổ chức đều đặn, nhưng hài cốt của các liệt sĩ vẫn chưa thể trở về.


