Bài viết

CHUYẾN XE GẠO GIỮA BOM RƠI

· Họ và tên: Nguyễn Xuân Nhự · Năm sinh: 1947 · Địa chỉ: Bắc Đông Quan (Đông Vinh cũ), Đông Hưng, Thái Bình · Quá trình công hiến: Nhập ngũ năm 1965, tham gia Thanh niên xung phong, trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu tại các mặt trận Thái Bình và Ninh Bình. Sau năm 1972, chuyển về công tác tại ngành Xây dựng tỉnh Thái Bình cho đến khi nghỉ hưu năm 1993. Thành tích đã đạt được sau chiến tranh:

Hưng Yên25/12/2025Lại Phương Anh, Hoàng Khánh Vân, Phạm Đức Thắng ,Phạm Đồng Hưng - chi đoàn 11a11. (xã Đông Quan)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông Ngồi đó, bên tách trà nguội dần, đôi mắt nhìn xa xăm ra khoảng sân nhỏ. Khi tôi hỏi về cuộc đời mình, ông chỉ lắc đầu nhẹ, giọng trầm đục như tiếng đất vỡ: “Tôi ư? Một người lính bình thường. Một người thợ xây bình thường. Sinh ra ở Đông Vinh, lớn lên bằng hạt lúa củ khoai, rồi năm mười tám tuổi (1965) cầm súng đi. Cuộc đời tôi là những chặng đường ấy thôi.”Nhưng trong câu chuyện “bình thường” ấy, tôi thấy cả một trời ký ức sáng rực lẫn ám ảnh.

Ký ức chiến tranh với ông bắt đầu bằng một màu đen kịt. Đó là trận bom đầu tiên ông chứng kiến tại bến xe Hoàng Diệu, Thái Bình – nơi người dân đang sơ tán. “Tiếng nổ như trời long đất lở,” ông kể, giọng khẽ run. “Khói bụi mù mịt, tiếng kêu khóc thảm thiết. Nhiệm vụ đầu tiên của chúng tôi không phải là bắn trả, mà là… thu nhặt những thi thể đồng bào. Tay run, lòng nghẹn lại, nhưng phải làm. Rồi ngay sau đó, xẻng cuốc trên tay, chúng tôi lấp những hố bom to như ao, san ủi để giữ trận địa. Bom có thể biến đất thành ao, nhưng không thể biến lòng người thành hoang mạc.”

Sau trận ấy, theo tiếng gọi “Tiếng hát át tiếng bom”, ông cùng đơn vị Thanh niên xung phong của Sở Xây dựng Thái Bình vào tận Ninh Bình để khai thác đá. “Thái Bình mình làm gì có núi. Muốn xây dựng, phải mạo hiểm vào tận chiến trường mà lấy nguyên liệu.” Ở đó, cái chết cận kề hơn bao giờ hết. Bom Mỹ nhằm vào các mỏ đá, vào con đê Hoàng Lăng. “Có những hôm vừa đục đá, vừa nghe tiếng máy bay rít trên đầu. Chạy, nấp, rồi khi yên, lại tiếp tục đục. Lấp bom ở đó ác liệt lắm, nhưng không lấp thì không lấy được đá, không xây được công sự.”

Sau năm 1972, ông về lại Thái Bình – lúc này là một mặt trận nóng bỏng. Ông nhớ nhất một chuyến đi định mệnh. Khi ấy, ông chỉ huy một đoàn xe chở lương thực, thực phẩm, đồng thời đưa một nhóm cán bộ xuống Tiền Hải thực tập xây dựng.

“Đoàn xe vừa rời khỏi thị xã Thái Bình chưa bao xa thì bom ập xuống. Một tiếng nổ chát chúa, khói lửa bùng lên. Trong giây phút hỗn loạn ấy, mệnh lệnh duy nhất của tôi là: ‘Bỏ hết! Chạy lấy người trước!’.”

Cả đoàn bỏ lại xe cộ, hàng hóa, chạy toán loạn tìm nơi trú ẩn. Tối hôm đó, họ nằm co ro trong một khu dân cư, lòng đầy hoang mang. Nhưng sáng hôm sau, điều kỳ diệu đã xảy ra.

“Tôi dẫn mọi người trở lại điểm bị ném bom, lòng nghĩ chắc xe đã tan nát, gạo thóc bị cướp phá hết. Nhưng không. Chiếc xe tải chở gạo vẫn còn nguyên vẹn ở đó. Không một hạt gạo nào mất. Dân làng quanh đó đã thay phiên nhau canh gác cho chúng tôi suốt đêm.”

Ông ngừng kể, mắt rưng rưng. “Cháu biết không, lúc ấy tôi mới thấm thía hai chữ ‘đoàn kết’ và ‘hậu phương’ nó quý giá nhường nào. Người dân họ nghèo, đói, nhưng không ai đụng vào hạt gạo dành cho bộ đội. Tình nghĩa ấy, một đời tôi không quên.” Sau trận ấy, đoàn của ông vẫn tiếp tục hành trình đến Tiền Hải, hoàn thành nhiệm vụ thực tập. Và cứ thế, năm này qua năm khác, ông đi khắp các công trường của tỉnh Thái Bình, từ những ngày khói lửa cho đến khi hòa bình lập lại.

Năm 1993, sau gần ba mươi năm cống hiến, ông nghỉ hưu, trở về với mảnh đất Bắc Đông Quan nơi chôn nhau cắt rốn. “Đi một vòng lớn, cuối cùng lại về chỗ cũ. Nhưng đất nước đã khác xưa rồi. Những con đường tôi từng chở gạo qua, giờ đã trải nhựa phẳng lì. Những cây cầu tôi từng góp sức xây, giờ xe cộ qua lại tấp nập.

Ông đứng dậy, dẫn tôi ra sân, chỉ tay về phía con đường làng. “Đánh giá về bản thân ư? Tôi chỉ là một viên đá nhỏ trong nền móng của quê hương mình thôi. Như những viên đá chúng tôi từng khai thác ở Ninh Bình năm xưa. Không ai nhìn thấy, nhưng nó đã góp phần chịu lực, để xây nên những công trình, những con đường. Vậy là đủ. Một đời bình thường, nhưng không hối tiếc.”

Chiều buông xuống. Bóng ông in dài trên nền đất. Tôi chợt hiểu, những “viên đá” bình thường như ông, với lòng dũng cảm thầm lặng, tình đồng chí keo sơn và niềm tin sắt son vào nhân dân, chính là nền tảng vững chắc nhất để dân tộc đi qua lửa đạn và xây dựng cuộc sống mới.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn