CHUYẾN XE SINH TỬ GIỮA NỘI ĐÔ
Có những sự kiện lịch sử không chỉ được ghi lại bằng những con số, mà được khắc họa bằng chính lằn ranh nghẹt thở giữa sự sống và cái chết. Cuộc cân não của mạng lưới an ninh Quận Nhất tại Đà Nẵng dịp Tết Mậu Thân 1968 chính là một thước phim đầy kịch tính như thế.Hồi chuông mở đầu vào những ngày đầu tháng Chạp năm Đinh Mùi. Nhận mật lệnh đặc biệt từ Điện Phước, tôi sắm vai người về quê đám giỗ, xách theo giỏ bánh ngọt, mì ông Phật mua ở chợ Mới rồi lên bến xe chợ Cồn để ngụy trang vượt qua các trạm gác, băng đồng qua Gò Nổi dự họp. Tại đây, sau khi nghe đồng chí Võ Bá Huân, Trần Thận phổ biến chủ trương Tổng công kích, tôi được các anh Kim Thanh, Trương Văn Thận, Võ Kế giao nhiệm vụ. Tổ công tác do anh Nguyễn Bá Cư (Hồng Tư) phụ trách nhanh chóng xây dựng trận địa trong nội đô. Riêng tôi chịu trách nhiệm đưa chị Nguyễn Thị Thanh (Huệ) ra lót đường trước ở Đà Nẵng để chuẩn bị cho nhiệm vụ diệt tên Thêm cảnh sát ác ôn tại đường Trần Kế Xương.Về lại Đà Nẵng, tôi giấu chị Huệ trong căn hẻm nhỏ sâu hút ở đường Hoàng Diệu. Để che mắt địch, chị được chuyển sang tiệm uốn tóc Tân Dung làm người giúp việc trước khi về đường Trần Kế Xương hoạt động. Ít lâu sau, ngôi nhà tiếp tục đón anh Kim Thanh từ Điện Phước ra ẩn náu. Cận Tết, mạng lưới gia đình gồm tôi, em trai Nguyễn Văn Sanh và chị dâu Trần Thị Mai xây dựng thêm một cơ sở chiến lược: nhà anh Lê Thanh Hồng ở đường Thống Nhất. Chiều 23 tháng Chạp, anh Kim Thanh được chuyển ra đây để đảm bảo an toàn và tổ chức các cuộc họp tác chiến tối mật.Đêm giao thừa, bóng tối bao trùm phố thị. Khoảng 8 giờ tối, tôi mang hương đèn giả vờ đi cúng giao thừa để làm một nhiệm vụ đặc biệt: kiểm tra ngọn đèn hột vịt ở ngã ba Chu Văn An – Hoàng Diệu. Ánh đèn đỏ thắp lên bên đòn bánh tét trên chiếc bàn con chính là mật hiệu an toàn. Tôi lập tức đi bọc qua ngã Giếng Bộp đến nhà anh Thanh Hồng báo cáo tình hình. Đúng giờ Giao thừa, tiếng súng tấn công đồng loạt nổ ra, đại pháo rền vang từ hướng Quân đoàn và sân bay Đà Nẵng dội vào các căn cứ địch, khiến lòng tôi sôi sục suốt đêm không ngủ.Thế nhưng, bình minh mồng Một Tết mở ra với một kịch tính mới: địch ra lệnh thiết quân luật toàn thành phố. Quân cảnh, cảnh sát dã chiến lăm lăm tay súng phong tỏa các ngả đường. Tin tức từ những người ở chùa Tỉnh hội chạy về báo rằng cuộc Tổng tiến công đã bị trục trặc. Ruột gan rối bời, cho đến chạng vạng tối mồng Hai, em trai tôi (Nguyễn Văn Sanh) trong vỏ bọc lính quân y ngụy mới về đến nhà báo tin cần đưa cán bộ rút gấp. Ba chị em lập tức bàn mưu và quyết định dàn dựng một đám tang giả nhờ gia đình cơ sở hỗ trợ.Sáng mồng Bốn Tết, cuộc đấu trí đạt đến đỉnh điểm. Tôi và anh Kim Thanh mặc đồ tang, ngồi chịu tang bên quan tài. Chiếc xe tang chầm chậm lăn bánh, đối mặt với họng súng kẻ thù tại một loạt trạm kiểm soát: Ngã ba Cai Lang, Ngã ba Huế, Ngã tư Hòa Cầm. Sự bình tĩnh đến gai người đã giúp chúng tôi vượt qua sự kiểm tra qua loa của địch. Ngay khi đến Thanh Quýt, hai anh em lập tức tách đoàn đám ma, theo đường sắt lánh về Điện Phước an toàn.Bức màn kịch tính khép lại bằng những mất mát can trường. Sáng mồng Sáu Tết, tôi quay lại Đà Nẵng thì nhận tin dữ: em trai Nguyễn Văn Sanh đã bị lộ và bị bắt xuống ty Gia Long khi dùng xe Honda chở anh Hà Kỳ Ngộ đi từ đường Độc Lập đến đường Phạm Phú Thứ, vì mật vụ nhìn thấy phù hiệu quân y trên ngực áo (em tôi sau đó bị đày ra Côn Đảo 5 năm). Giữa lúc hoang mang, lời mật báo thì thầm bên luống rau khoai của bà Xã Diễn đã giúp tôi kịp trốn ra bến xe về lại Điện Phước trước khi bị mật vụ bắt giữ. Đến tháng 7 năm 1969, khi ra lại Đà Nẵng, tôi bị bắt giam vào Kho Đạn hơn 3 năm.Chuyến xe tang sinh tử ngày Tết năm ấy và hình bóng anh Kim Thanh – người đã hy sinh trong một đợt công tác sau này – mãi là một thước phim bất tử về lòng dũng cảm của những người con đất Quảng.


