CIL MÚP HA KRIÊNG – KHÚC TRÁNG CA TRÊN ĐÔI CHÂN TRẦN GIỮA ĐẠI NGÀN LANG BIANG
Giữa đại ngàn Tây Nguyên hùng vĩ, vùng đất dưới chân đỉnh núi thiêng Bidoup được ví như “tiểu thiên đường” với những cánh rừng thâm u, quanh năm mây mù bao phủ và khí hậu mát lạnh ở độ cao 1.500m. Đây là nơi sinh sống của bộ tộc Cil (nhánh dân tộc K’Ho) – những con người can trường, quật khởi và sở hữu sức mạnh nội lực phi thường, luôn một lòng theo cách mạng qua những năm tháng gian khó. Từ mạch nguồn văn hóa và tinh thần kiên cường ấy, người con ưu tú Cil Múp Ha Kriêng đã trưởng thành và trở thành hiện thân sống động cho khí phách đại ngàn. Với đôi chân trần huyền thoại, ông đã dành hơn 13 năm ròng rã băng rừng lội suối đưa thư, vượt quãng đường tương đương năm vòng chu vi Trái đất để nối liền mạch máu thông tin giữa Đảng và nhân dân vùng sâu, vùng xa. Câu chuyện về người bưu tá "chân đất" Ha Kriêng mãi là một bản anh hùng ca thầm lặng, một câu chuyện cổ tích hiện đại giữa đại ngàn Lang Biang hùng vĩ.
Đôi chân huyền thoại vượt núi, băng rừng.
Cil Múp Ha Kriêng sinh ngày 3/3/1957 tại thôn Mê Ka, xã Đạ Tông, huyện Lạc Dương. Lớn lên giữa đại ngàn thâm u quanh năm mây mù bao phủ, tâm hồn ông thấm đẫm sự thuần khiết và kiên cường của bộ tộc Cil dưới chân đỉnh Yàng Bic Dùp hùng vĩ. Anh hùng Cil Múp Ha Kriêng cùng vợ là bà Rơ Ông K’Hai làm nghề dệt thổ cẩm và ba người con sinh sống tại buôn Bnơr C Lạc Dương, Lâm Đồng trong hoàn cảnh rất khó khăn, thiếu thốn,... Bà K’Hai là hậu phương vững chắc, không chỉ tần tảo gánh vác việc nhà mà còn tận tình chăm sóc ông sau những chuyến băng rừng dài ngày. Tháng 12/1982, trong bối cảnh đất nước vừa đi qua chiến tranh, giao thông trắc trở và phương tiện đi lại gần như không có, Ha Kriêng được nhận vào làm công nhân vận chuyển tại Bưu điện huyện Lạc Dương. Tổ vận chuyển khi ấy chỉ có 5 người, đảm trách đưa thư báo đến những vùng hẻo lánh nhất. Với sức trẻ và sự thông thạo đường rừng, Ha Kriêng nhận lãnh những tuyến đường gian khổ nhất: Lạc Dương đi Đạ Chais, Băng Tiên và đặc biệt là Đầm Ròn.
Ít ai có thể tin được rằng, trong suốt 13 năm ròng rã, Ha Kriêng đã lội bộ vượt rừng một quãng đường tổng cộng bằng năm vòng chu vi Trái đất. Tuyến đường Lạc Dương – Đầm Ròn dài khoảng 70km nếu đi tắt xuyên rừng, nhưng mỗi chuyến đi cả đi lẫn về phải mất tới 24 tiếng đồng hồ đi bộ liên tục qua những địa hình hiểm trở. Nếu đi theo đường lớn, quãng đường ấy lên tới 200km. Hành trình của ông là cuộc đối đầu nghiệt ngã với thiên nhiên. Đó là những con dốc dựng đứng như dốc Đá, dốc Trời – nơi mà sương mù dày đặc đến mức người đi sau chỉ thấy bàn chân người đi trước. Đó là những dòng suối sâu nước chảy xiết mùa mưa, buộc ông phải đốn cây rừng làm cầu tạm. Dù được trang bị giày ba-ta, nhưng đá dăm và rêu trơn khiến giày chỉ đi vài chuyến là thủng đế, khiến bàn chân bật máu. Ha Kriêng nhận ra rằng đi chân trần mới là cách tốt nhất để “bám” chặt vào đá rêu trơn trượt, dù đôi chân ấy đã bao lần rướm máu vì đá gai.
“Thời hoa lửa” của Ha Kriêng không chỉ là nắng cháy da người hay những cơn sốt rét rừng quật ngã ông giữa dốc vắng, mà còn là cuộc đấu trí đầy căng thẳng với lực lượng Fulro phản động. Trong giai đoạn 1975 - 1985, Đầm Ròn là tâm điểm hoạt động của địch với những cuộc phục kích tàn khốc trên đường giao thông. Để bảo vệ an toàn cho tài liệu và thư từ của Đảng, Ha Kriêng phải cải trang thành người dân đi rừng với “vai trần, đóng khố”, giấu công văn dưới đáy gùi hai lớp và ngụy trang bằng các vật dụng thiết yếu bên trên. Nỗi đau lớn nhất đời ông là ký ức về những đồng nghiệp đã hy sinh dưới làn đạn phục kích của kẻ thù, như anh Ha Hương và Ha Rang đã ngã xuống tại Cổng Trời năm 1980. Không chỉ đối đầu với con người, ông còn phải chiến đấu với thú dữ để bảo vệ đồng đội. Năm 1986, khi đi cùng đồng nghiệp Ha Sú, họ bất ngờ bị một con gấu hung hãn tấn công. Trong tay không vũ khí, Ha Kriêng đã dũng cảm dùng gậy gỗ, gạch đá và tiếng la hét quyết liệt để xua đuổi mãnh thú, cứu sống đồng đội khi anh đã bị gấu cào xước máu me đầm đìa.
Bưu tá Ha Kriêng đưa thư đến vùng sâu.
Tinh thần trách nhiệm của người anh hùng K’Ho được thể hiện qua những triết lý sống bình dị nhưng vô cùng xúc động: “Người mình ướt thì khô ngay được, còn nếu để thư từ, công văn ướt thì sẽ hỏng hết...”. Vào những mùa mưa rừng lạnh thấu xương, khi chỉ có tấm ni lông ít ỏi, ông luôn ưu tiên bọc tài liệu cho thật kỹ, chấp nhận để bản thân chịu ướt, chịu lạnh. Niềm vui lớn nhất thắp sáng đôi chân trần của ông chính là gương mặt rạng rỡ của bà con buôn làng khi nhận được những dòng thư từ con em đang cầm súng nơi biên giới xa xôi hay những trang báo mang tin tức từ thế giới bên ngoài. Với ông, đó là mạch máu nối liền buôn làng hẻo lánh với hơi thở của đất nước.
Với những cống hiến phi thường, năm 2001, Cil Múp Ha Kriêng vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới. Ông trở thành biểu tượng sống động cho ý thức trách nhiệm và lòng tận tụy của ngành Bưu chính Viễn thông Việt Nam.
Sau khi nghỉ hưu vào năm 2008, cuộc sống của gia đình Anh hùng Cil Múp Ha Kriêng gặp nhiều khó khăn do tình trạng sức khỏe của ông giảm sút nghiêm trọng. Do di chứng từ ca mổ khối u não năm 2006, đôi mắt người anh hùng mờ dần, đôi chân từng băng rừng lội suối bị teo liệt khiến ông phải gắn bó với chiếc xe lăn và mọi sinh hoạt cá nhân đều cần sự giúp đỡ. Người vợ tận tụy, chị Rơ Ông K’Hai, đã trở thành trụ cột gánh vác gia đình và trực tiếp chăm sóc ông trong phòng riêng khi ông không còn khả năng tự ăn uống hay giao tiếp bình thường. Thu nhập của gia đình rất hạn hẹp, chủ yếu dựa vào mức lương hưu hơn 3 triệu đồng cùng khoản hỗ trợ 500.000 đồng mỗi tháng từ quỹ đóng góp của cán bộ công nhân viên Bưu điện Lâm Đồng. Dù các con ông luôn được ngành Bưu điện quan tâm, giúp đỡ và con gái đầu Rơ Ông K’Brông đã tiếp nối sự nghiệp của cha, nhưng gia đình vẫn đối mặt với áp lực kinh tế từ các hủ tục thách cưới nặng nề tại địa phương. Dù lâm vào hoàn cảnh khó khăn, ông vẫn giữ cốt cách giản dị của người con núi rừng, không một lời than vãn. Ngày 6/4/2021, “cánh chim phí” của đại ngàn Lang Biang đã chính thức dừng bước, Ha Kriêng về với cõi Yàng, để lại một huyền thoại bất tử về lòng tận tụy.
Câu chuyện về Anh hùng Cil Múp Ha Kriêng là minh chứng rực rỡ nhất cho tinh thần hy sinh thầm lặng của một thế hệ bưu tá trong “thời hoa lửa” đầy biến động. Đôi chân trần ấy dẫu đã dừng lại, nhưng dấu chân của ông đã in sâu vào lòng đất mẹ Lang Biang, thành ngọn lửa truyền cảm hứng cho thế hệ mai sau về lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm với cộng đồng. Ông đã đi vào cõi vĩnh hằng, nhưng tiếng gọi “Nhà có thư nè!” của người bưu tá anh hùng sẽ còn vang vọng mãi giữa ngàn mây đại ngàn.



