CÔ GÁI HƯNG YÊN GÁNH GẠO CHO BỘ ĐỘI
Trong những năm kháng chiến ác liệt, nhiều cô gái Hưng Yên đã rời mái nhà tranh, gánh gạo băng qua đồng ruộng, bờ bãi, đường làng bị bom cày xới để tiếp tế cho bộ đội. Câu chuyện của bà Lê Thị Mai là hồi ức xúc động về tuổi thanh xuân gửi trọn cho tiền tuyến.
Tôi là Lê Thị Mai, sinh năm 1932. Ngày tôi gánh gạo cho bộ đội, tôi mới tròn hai mươi tuổi – cái tuổi lẽ ra chỉ biết đến ruộng đồng, bếp núc và những ước mơ rất con gái. Nhưng chiến tranh đến, tuổi trẻ của chúng tôi đi theo những quang gánh gạo.
Nhà tôi ở xã Trung Dũng, vùng thuần nông. Gạo là thứ quý nhất. Mỗi hạt gạo là mồ hôi, là công sức của cả gia đình. Nhưng khi nghe tin bộ đội đóng quân ở bìa làng thiếu lương thực, không ai do dự. Nhà nào có gạo góp gạo, nhà nào ít thì góp ít. Phụ nữ, con gái đảm nhận việc gánh đi tiếp tế.
Ngày đầu tiên nhận nhiệm vụ, tôi gánh hai thúng gạo, mỗi bên hơn hai chục cân. Đòn gánh tre cong xuống, vai đau buốt. Mẹ tôi buộc lại quai gánh cho chắc rồi dặn:
“Đi cẩn thận, gặp gì nguy hiểm thì nằm xuống, giữ gạo là giữ bộ đội.”
Chúng tôi đi thành từng tốp nhỏ, tránh đi đường lớn. Đường toàn bờ ruộng, bờ mương, nhiều đoạn bị bom đánh sạt, trơn trượt. Có hôm trời mưa, bùn ngập đến mắt cá, gánh nặng trĩu kéo người tôi nghiêng sang một bên.
Có lần, đang đi thì nghe tiếng máy bay. Cả nhóm vội vàng đặt thúng gạo xuống ruộng, nằm ép mình xuống bờ cỏ, phủ rơm lên trên. Máy bay lượn vòng, thả bom xa xa. Tôi nằm đó, tim đập dồn dập, chỉ sợ gạo ướt, sợ bom rơi gần.
Khi yên, lại đứng dậy, lau bùn trên thúng, gánh tiếp. Không ai nói với ai câu nào, nhưng trong lòng ai cũng chung một suy nghĩ: phải đưa được gạo đến nơi.
Đến chỗ bộ đội trú quân, nhìn các anh gầy gò, áo bạc màu, tôi thấy vai mình bỗng nhẹ hẳn. Các anh nhận gạo mà mắt sáng lên. Có anh nói vui:
“Gạo của các chị, chúng tôi ăn vào là có thêm sức đánh giặc.”
Những chuyến gánh cứ thế lặp lại. Vai tôi chai sạn, lưng đau nhức, nhưng chưa bao giờ tôi xin nghỉ. Có hôm về đến nhà, tôi mệt đến mức ngã lăn ra ngủ, sáng hôm sau lại tiếp tục.
Nhiều năm sau, khi tóc đã bạc, nghĩ lại quãng đời ấy, tôi không nhớ rõ mình đã gánh bao nhiêu thúng gạo. Tôi chỉ nhớ rất rõ một điều: tuổi trẻ của tôi đã đi cùng từng hạt gạo ra mặt trận, và tôi chưa từng hối tiếc.


