CÔ GÁI THU GOM LÁ DONG ĐỂ GÓI BÁNH CHƯNG GỬI TIỀN TUYẾN
Nguyễn Thị Lự – một cô gái vùng ATK Thái Nguyên – đã có những năm tháng thanh xuân miệt mài thu gom lá dong, góp công gói bánh chưng gửi ra tiền tuyến. Công việc tưởng nhỏ bé nhưng góp phần tiếp thêm hơi ấm cho những người lính đang ngày đêm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Những năm 1968–1972, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn khốc liệt, vùng ATK Thái Nguyên trở thành hậu phương lớn của miền Bắc. Ở xã Hùng Sơn, các tổ phụ nữ và thanh niên được giao nhiều nhiệm vụ phục vụ chiến trường: giã gạo, phơi sắn, làm dép cao su, khâu nón… Trong đó, tổ phụ nữ thôn Đồi có nhiệm vụ đặc biệt: gói bánh chưng gửi cho bộ đội vào dịp Tết và cả trong những đợt chiến dịch lớn.
Ở tuổi mười tám, Nguyễn Thị Lự là một trong những người tích cực nhất. Công việc của cô cũng gian khổ không kém đàn ông ngoài mặt trận: đi rừng tìm lá dong, mà phải là loại lá xanh dày, không rách, không đốm, đủ tiêu chuẩn để bánh mang đi xa không bị hỏng.
Thời đó, lá dong hiếm, phải lên tận những khu rừng xa, trèo đồi, vượt suối để tìm. Có hôm trời mưa, đất trơn, Lự trượt chân xuống khe suối, ướt hết quần áo. Nhưng cô chỉ cười rồi lại buộc bó lá lên lưng đi tiếp.
Nhân chứng kể lại:
“Biết là lá dong nhỏ bé thôi nhưng lại quan trọng lắm. Bánh chưng không có lá thì sao mang hương vị Tết đến cho bộ đội được.”
Những ngày cận Tết, cả thôn thức gần như trắng đêm gói bánh. Lự cùng mẹ và các chị em rửa lá, chẻ lạt, xếp khuôn. Mùi lá dong thơm nồng hòa trong tiếng cười rộn rã như xua tan cái lạnh cuối đông.
Có những đêm gói đến 300–400 chiếc bánh. Khi bếp củi rực hồng, Lự lại được giao trông nồi bánh vì cô nhanh nhẹn và cẩn thận. Tiếng pháo sáng từ xa vọng lại, nhưng nồi bánh vẫn đỏ lửa suốt đêm.
“Chỉ mong bánh xanh, chín đều, để khi bộ đội cắt ra, mùi thơm sẽ làm các anh thấy như Tết ở nhà,” cô nói.
Những chiếc bánh chưng được xếp vào các thùng gỗ, bọc lá chuối cho khỏi khô rồi chuyển cho đội dân công hỏa tuyến. Từ Thái Nguyên, chúng vượt qua bao dốc đèo, qua những con đường bom Mỹ đánh phá để tới chiến trường.
Một lá thư từ đơn vị đóng ở Quảng Trị từng gửi về:
“Bánh chưng của các mẹ, các chị đã giúp chúng tôi cảm nhận như đang được ăn Tết ở quê nhà. Cảm ơn hậu phương nhiều lắm.”
Lự đọc thư mà rưng rưng, thấy mọi vất vả, những bước chân mỏi nhừ khi lên rừng tìm lá đều trở nên xứng đáng.
Sau ngày đất nước thống nhất, Lự trở về thôn Đồi, lập gia đình và tiếp tục cuộc sống bình dị. Nay tuổi đã ngoài 70, nhưng mỗi độ Tết đến, bà vẫn giữ thói quen ra rừng hái vài tàu lá dong, gói mấy chiếc bánh để nhớ lại một thời thanh xuân rực lửa.
Bà nói chậm rãi nhưng ánh mắt vẫn sáng:
“Chúng tôi không cầm súng, nhưng mỗi chiếc bánh gửi đi là một lời nhắn: Hậu phương luôn ở bên các anh.”
Câu chuyện của bà Nguyễn Thị Lự là hình ảnh đẹp của những người phụ nữ nơi hậu phương – những con người thầm lặng đã góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của dân tộc.


