Cô gái vá đường trong đêm ở “chảo lửa” Khe Sanh
Trong những năm kháng chiến, Đường 9 – Khe Sanh (Quảng Trị) được nhắc đến như một “chảo lửa”. Bom đạn cày nát mặt đường, đồi núi bị rải chất độc trơ trụi, máy bay lượn vòng do thám như không cho con người một khe thở. Nhưng ngay giữa nơi tưởng chỉ có hủy diệt ấy, vẫn có một lực lượng bền bỉ làm một việc tưởng nhỏ mà hóa ra lại quyết định: mở đường để xe ra tiền tuyến. Trong hàng trăm nam nữ thanh niên xung phong ngày ấy, có bà Nguyễn Thị Rẩy.
Trong những năm kháng chiến, Đường 9 – Khe Sanh (Quảng Trị) được nhắc đến như một “chảo lửa”. Bom đạn cày nát mặt đường, đồi núi bị rải chất độc trơ trụi, máy bay lượn vòng do thám như không cho con người một khe thở. Nhưng ngay giữa nơi tưởng chỉ có hủy diệt ấy, vẫn có một lực lượng bền bỉ làm một việc tưởng nhỏ mà hóa ra lại quyết định: mở đường để xe ra tiền tuyến. Trong hàng trăm nam nữ thanh niên xung phong ngày ấy, có bà Nguyễn Thị Rẩy.
Bà năm nay 75 tuổi, sống ở xã Nhơn Ái (TP Cần Thơ). Tóc đã bạc, tai đã lãng, nhưng trí nhớ về ba năm (1968–1971) làm nhiệm vụ ở Khe Sanh thì vẫn rõ như vừa hôm qua. Mỗi lần kể lại, bà vẫn xúc động, bởi đó là quãng đời thanh xuân rực rỡ nhất: rực rỡ không phải vì bình yên, mà vì dám sống trọn cho một niềm tin.
Cả nhà cùng chung một con đường Bà Rẩy sinh ra ở Thanh Hóa. Từ nhỏ đã nuôi ý nghĩ phải góp phần đánh giặc để đất nước có độc lập, hòa bình. 18 tuổi, bà đăng ký vào Thanh niên xung phong, sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ nào Tổ quốc giao.
Tình yêu nước ấy không đến từ những lời hô hào suông, mà được bồi đắp từ chính gia đình. Cha bà từng là dân quân chở gạo ra chiến trường Điện Biên Phủ. Em trai đi bộ đội. Chị gái cũng là TNXP ở Hà Tĩnh, Nghệ An. Mẹ bà không ra chiến trường, nhưng trở thành hậu phương bền bỉ: chăm ruộng, lo nhà, chắt chiu lúa gạo.
Bà kể, nhà được cấp 9 sào ruộng, sau mỗi vụ chỉ giữ lại đủ ăn, còn lại gom góp gửi đi “tiếp sức”. Bởi thế, khi bà quyết định rời trường lớp để đi, người thân không ngăn cản, trái lại còn ủng hộ, xem đó là điều vinh quang nhất của tuổi trẻ khi ấy.
Đặt chân tới đường 9 – Khe Sanh Năm 1968, sau nửa tháng đi bộ, đơn vị của bà dừng chân ở Đường 9 – Khe Sanh. Tuyến đường này cắt ngang Quảng Trị, kéo dài sang đất Lào, đi qua dãy Trường Sơn và gắn với đường Hồ Chí Minh – một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng cho vận tải Bắc – Nam.
Đối phương coi đây là trọng điểm đánh phá. Về phía ta, đó là mạch sống – mất đường đồng nghĩa đứt nguồn chi viện. Địch lập hệ thống phòng thủ dày đặc, vũ khí hiện đại, biến Khe Sanh thành vùng đất khốc liệt. Nhưng những nam nữ TNXP, trong đó có bà Rẩy, vẫn bước vào với một tâm thế rất lạ: không coi hiểm nguy là điều đủ sức cản bước.
Bà nhớ lại, mình nhỏ con, nên ngày khám tuyển đạt tiêu chuẩn là mừng lắm. “Ai cũng nôn nóng đi. Lúc đó, sự hy sinh – nếu có – người ta cũng nghĩ nhẹ như một điều phải đến.”
Ban ngày ẩn rừng, ban đêm ra đường Đơn vị của bà đóng bí mật ở bìa rừng, cách Đường 9 khoảng 4 km. Dù không nằm trên trục chính, máy bay địch vẫn lượn lờ, thả bom. Bà bùi ngùi nhớ những tin dữ: dân đi làm rẫy giẫm bom mìn mà chết.
Trong rừng, có khe suối tự nhiên nên có nước. Lương thực ngoài tiếp tế còn tự tăng gia: trồng rau, nuôi hươu để cải thiện. Và dù thiếu thốn, họ vẫn nhường cơm sẻ áo cho đồng bào dân tộc quanh vùng khi nương rẫy bị bom đạn phá nát.
Có lần, từ làn khói bếp bay lên, địch phát hiện và ném bom trúng khu bếp. May lúc ấy không đúng giờ ăn nên không có thương vong. Nhưng Đường 9 thì ngày nào cũng bị đánh. Bom đạn khoét xuống mặt đường những “vết thương” sâu hoắm. Đồi xanh hai bên bị rải chất độc hóa thành đồi trọc để địch dễ quan sát từ trên cao.
Vì thế, vá đường không thể làm ban ngày. Chỉ khi đêm xuống, đơn vị mới băng rừng ra đường. Mỗi người một cuốc, một xẻng. Làm thật nhanh, thật gọn, rồi lại rút vào rừng trước khi trời sáng.
Đơn vị khoảng 300 người, hơn 200 là nữ. Bà kể: ra là làm một mạch, khiêng đá, lấp hố bom, san mặt đường. Có lúc hai người phải gồng chung một bao đá. Mệt rã rời, nhưng không ai dừng lại. Địch phá tới đâu, mình vá tới đó. “Bom đạn không khuất phục được ý chí con người” – bà nói, mà giọng nghe như một lời thề giản dị.
Hy sinh đến từ những điều không ngờ Nguy hiểm không chỉ từ bom đạn, mà còn từ núi rừng hiểm trở. Để có đá vá đường, phải nổ mìn; đá to thì đập nhỏ để xe chạy. Nhưng dốc núi cheo leo, chỉ một sai lệch cũng thành bi kịch.
Bà nghẹn giọng khi nhắc một lần đá lăn sai hướng. Hai người không kịp chạy, bị đá đè, hy sinh ngay tại chỗ. Với những người còn lại, nỗi đau không làm họ chùn bước, mà biến thành một quyết tâm cứng hơn: giữ lời hứa với đồng đội. Đường 9 “lở loét” rồi lại được chữa lành, để những đoàn xe chở bộ đội, vũ khí, lương thực, thuốc men vẫn vào được miền Nam.
Hạnh phúc riêng gác lại, rồi lại chia xa Năm 1971, bà được đơn vị cho về nhà an dưỡng. Lúc ấy mới bắt đầu nghĩ đến chuyện gia đình. Người chồng sau này của bà là bạn học từ lớp 9, cũng người Thanh Hóa. Họ từng hẹn ước, rồi cùng gác lại vì chiến tranh.
Ngày bà về, đoàn tụ chưa được bao lâu, lại đến chia ly. Đám cưới xong, hôm sau ông đi bộ đội vào chiến trường B. Từ đó cho tới ngày 30/4/1975 gần như bặt tin. Mãi năm 1976, bà mới nhận được vài khúc vải may đồ và một lá thư gửi về.
Sau đó bà vào Cần Thơ sống cùng chồng, đến nay đã hơn ba chục năm. Bà nói, khi hai người cùng một lý tưởng, thì cảnh “anh tiền tuyến – em hậu phương” không làm tình yêu nhỏ đi, mà khiến nó bền hơn, đẹp hơn trong thời bình.



