Anh hùng Lực lượng vũ trang

Cô hàng rau yêu quý

Hồi ấy, ở phường Ninh Xá có một cửa hàng rau quả của hợp tác xã chuyên cung cấp rau quả tươi cho các trận địa pháo cao xạ đánh máy bay Mỹ bảo vệ bầu trời Bắc Ninh...

Phú Thọ14/04/2026Đoàn xã Tân Pheo (Đoàn xã Tân Pheo)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong cửa hàng có một cô gái bán hàng tên là Phạm Thị Bắc đẹp người, đẹp nết, được nhiều chàng trai để ý. Có người tỏ tình, Bắc chưa nhận lời ai nhưng Bắc âm thầm tranh thủ lúc nghỉ ngơi, đêm khuya, cô thêu một chiếc khăn tay có đôi bồ câu trắng đang chụm “môi” quấn quýt vờn cánh bên nhau. Bắc tâm sự với các bạn gái: "Mình chỉ là người bán rau. Anh chàng nào tử tế, không phân biệt địa vị, giàu nghèo, thật tình đến với mình với mối tình chân thành, trong sáng, mình sẽ chọn người đó và tặng chiếc khăn thêu này để làm của… tin”. “Của tin” nằm mãi trong hòm tư trang nhưng chưa có ai xứng đôi để trao tặng. Bỗng một hôm vào giữa tháng 4-1967, nhà bà Nguyễn Thị Biện có khách. Bà Biện, người cùng bán hàng rau với Bắc, có con trai là Nguyễn Kinh Vỹ đi bộ đội tình nguyện quân chiến đấu ở Thượng Lào về phép thăm nhà, có mời Chính trị viên đại đội Trần Ngọc Phương - là anh kết nghĩa của Vỹ cùng về thăm mẹ. Phương hơn Vỹ 4 tuổi. Thấy Vỹ hiền lành, nhanh nhẹn, Phương rút Vỹ lên làm liên lạc viên cho đại đội. Qua tâm sự, Phương biết nhà Vỹ cũng nghèo, tuổi nhỏ cũng đi ở đợ, làm thuê như mình. Vỹ mồ côi cha, chỉ còn mẹ già, nhưng mới 17 tuổi đã xung phong nhập ngũ cũng như Phương năm 1963 mới 18 tuổi đã rời nhà, tình nguyện đi chiến đấu giúp Lào đánh Mỹ. Phương đã nhận Vỹ làm em nuôi, thương yêu Vỹ như em ruột.

Hai vợ chồng Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Trần Ngọc Phương. Ảnh Trần Công.

Thấy Phương cũng không còn bố mẹ, đã đến tuổi cần có gia thất nhưng vẫn độc thân, bà Biện liền giới thiệu Bắc cho Phương. Phương đồng ý. Bà Biện đã thu xếp cùng gia đình nhà gái cho Phương và Bắc gặp nhau trong bữa cơm thân mật cùng hai gia đình. Phương thấy Bắc nết na, thùy mị, hiền lành, duyên dáng. Còn Bắc thì im lặng quan sát anh bộ đội trắng trẻo, đẹp trai, chỉ hơn Bắc 3, 4 tuổi nhưng dáng vẻ cương nghị và ít lời. Thật ra khi mắt hai người “đóng đèn” chập vào nhau thì “tiếng sét ái tình” đã nổ ra. Phương thầm nghĩ: "Bắc đúng là gái xứ Quan họ. Có đôi mắt sắc sảo, cuốn hút thật. Này cô em ơi! Có rửa thì rửa chân tay. Chớ rửa lông mày chết cá ao anh… Bắc đẹp thế, duyên dáng thế thì lính lác như mình làm sao với tới được. Suốt buổi cơm, hai người vẫn im lặng dò xét nhau, chưa ngỏ lời hò hẹn gì ngoài 4 con mắt nhìn nhau. Phương đành cảm ơn gia đình Bắc và trắng tay ra về. Phương đưa mắt tìm Bắc, vừa bước lùi đến ngõ thì từ bụi chuối, Bắc chạy đến dúi “của tin” có thêu đôi bồ câu vào túi áo bộ đội của Phương, rồi đỏ mặt e thẹn chạy vào nhà. Như vậy là Phương vẫn chưa trắng tay và còn hy vọng.

Sáng hôm sau, cho phép Vỹ ở lại thêm với mẹ vài ngày còn Phương trở lại Thượng Lào gấp để chuẩn bị cho Chiến dịch Nậm Bạc.

Phương đi rồi, tự nhiên Bắc cảm thấy nhớ đôi mắt nhìn và nụ cười hiền lành của anh bộ đội đến ăn cơm nhà mình. Mới chỉ gặp nhau hơn 20 tiếng đồng hồ mà sao Bắc cảm thấy như đã quen biết nhau 20 năm qua. Bắc chạy qua nhà bà Biện để tìm hiểu, hỏi chuyện “ông anh nuôi” của Vỹ. Mấy lần nghe Vỹ kể chuyện anh Phương mà Bắc đã thấy rõ cái “lý lịch trích ngang” của người chiến sĩ Tình nguyện quân ấy.

Trở về chiến trường, lao vào trận mạc thì Phương quên hết. Nhưng khi rút về hậu cứ luyện tập, nghỉ ngơi, Phương lại nhớ Bắc đến bổi hổi, bồi hồi. Phương lại mở chiếc khăn thêu của Bắc ra chăm chú nhìn như tìm lời gửi gắm bí ẩn nào đó của Bắc. Nếu Bắc đồng ý với lời mối mai giới thiệu của bà Biện thì Bắc trả lời cho Phương chớ sao im lặng lâu thế! Phương tự hỏi và tự an ủi mình: Thời buổi bom đạn này, cái thư đi từ Việt Nam đến Lào cũng mất hàng tháng.

Sau hai tháng Chiến dịch Nậm Bạc kết thúc thì Phương nhận được thư Bắc. Thư viết đúng hôm sau khi Phương rời Bắc Ninh. Lời thư cũng có nói nhớ, nói thương nhưng thắc mắc: “Ở nhà em cả ngày mà chẳng kể chuyện chiến trường Lào cho em nghe. Người đâu mà kín tiếng thế”. Thư thứ hai thì hỏi: “Ở mặt trận dạo này khổ lắm không anh? Có lạc rừng phải ăn nấm meo, măng rừng thay cơm như những năm trước nữa không?”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp chúc mừng Trần Ngọc Phương được tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân tại Đại hội Anh hùng lần thứ tư. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Thư từ qua lại, hai người đã kể cho nhau nghe chuyện hậu phương, chuyện chiến trường và bao nhiêu mơ ước sẽ có ngày được sống bên nhau. Lá thư sau cùng Phương ước mơ đến ngày được cưới Bắc. Thư Bắc trả lời Phương: “Ngày cưới chắc còn xa lắm, mà có khi sẽ không có ngày ấy vì địa vị và công tác của anh với em khác nhau “một trời một vực”. Bắc nhắc lại những chuyện nghe được từ cậu em nuôi và đồng đội của Phương cả người Lào và người Việt kể rằng khi nhập ngũ lên chiến trường Lào, Phương mới 17 tuổi, mới chỉ là binh nhì đã xung phong đi gỡ ba quả mìn địch cài chặn đường quân ta, đường thông, trận đánh thắng, Phương được tặng thưởng huân chương chiến công. Chỉ mấy ngày sau cùng tổ đi trinh sát, một đồng đội hy sinh, Phương đã cõng bạn vượt suối sâu, đèo cao mang tử sĩ về đơn vị. Phương lại được thưởng huân chương chiến công lần thứ hai. Chưa đầy một tuổi quân, là một binh nhì làm liên lạc, đã tham gia trận đánh chiến đoàn thiết giáp của địch ở Phụ Bạ, xạ thủ B40 bị thương, Phương đã xung phong thay thế xạ thủ, vác B40 xuống đường chặn bắn cháy xe tăng địch, diệt tên chỉ huy chiến đoàn, bắt sống bọn tham mưu và thông tin…

Sau trận thắng lấy thành tích kỷ niệm sinh nhật lần thứ 74 của Bác Hồ, về Hà Nội dự Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quốc rồi lần sau về dự Đại hội Anh hùng lần thứ 4, Phương được gặp Bác Hồ ba lần, được Bác Hồ ôm hôn và động viên, khen ngợi. Phương đã trở thành anh hùng của Tình nguyện quân Việt Nam; nhưng Bắc còn nghe anh em bộ đội về học quân sự ở Bắc Ninh ghé thăm Bắc và kể người Lào xem Phương như một anh hùng. Phương còn được bộ đội Pa-thét Lào đặt tên là Khăm-xon. Các cô gái đẹp như hoa hậu ở Nậm Bạc và gái người Mông ở Xiềng Khoáng rất yêu mến Phương. Cuối bức thư dài đó, Bắc viết thêm mấy câu làm Phương đau lòng: … “Anh Phương ơi! Em tự nhìn lại em thấy mình chưa xứng đáng với người anh hùng của cả hai nước Việt - Lào. Vậy làm sao mà ước mơ có ngày anh trở lại cưới cô hàng rau ở cái phường Ninh Xá này”…

Đọc xong thư, Phương nhận ra qua 4 năm thư từ qua lại yêu nhau đã thắm thiết, mặn nồng. Nhưng Bắc vẫn còn đắn đo, tự ti, mặc cảm. Phương quyết định báo cáo với đơn vị xin phép về cưới Bắc. Cha mẹ Phương đã mất sớm, Phương thư về bàn bạc với ông anh cả Trần Văn Hà đi Bắc Ninh xin ông bà Phấn, bố mẹ Bắc, cho phép Phương về cưới Bắc. Hai bên gia đình chọn lễ cưới vào ngày Tết Trung Thu 1971, tổ chức tại thị xã Bắc Ninh. Thư Phương báo tin vui cho Bắc chuẩn bị cái ngày long trọng ấy bằng câu mở đầu: “Cô hàng rau yêu quý của anh…”.

Trước ngày cưới một tuần, trung đoàn cử Đại úy Phương Bê cùng về thay mặt đơn vị tổ chức đám cưới. Xe về đến địa đầu Bắc Ninh thì đê vỡ, nước lũ dâng trắng đồng, xe không chạy được. Hai chàng đành nằm lại chờ nước rút. Chờ mấy ngày mà nước rút rất chậm, Phương bàn để Phương Bê trở về đơn vị, còn mình ở lại chờ. Nước vừa rút xuống ngang bắp vế, Phương đội ba lô lên đầu, lội về nhà. Bắc đã ôm chầm lấy Phương mà khóc òa.

Ở nhà, Đoàn Thanh niên lao động thị xã Bắc Ninh đã chuẩn bị chu đáo mọi thứ, chỉ đang sốt ruột chờ chú rể. Phương đã về kịp trước giờ cưới, anh vẫn mặc bộ quân phục chiến trận và Bắc mặc áo sơ mi xanh màu trời. Cô dâu, chú rể xắn quần quá gối lội bì bõm như người đi bắt ếch, giữa tiếng trống ếch của thiếu nhi tập trung ở sân thư viện khua lên vừa đón Tết Trung Thu, vừa chào mừng ngày cưới của Phương - Bắc. Ấn tượng sâu sắc để lại trong lòng đôi vợ chồng là nước lũ còn trắng phố, trắng đồng mà bầu trời trong veo, trăng rằm đêm Trung Thu sáng vằng vặc cả trụ sở sân thư viện đầy người và đầy tiếng hát; tiếng trống múa lân xập xình thâu đêm.

Ở nhà với Bắc được 5 ngày, Phương trở lại mặt trận Thượng Lào. Năm 1972, Bắc sinh con trai đầu lòng đặt tên Trần Ngọc Sơn. Cuối năm 1973, Phương được quân đội cử về làm Chính trị viên phó tỉnh đội Hà Bắc (cũ), anh lại được bầu làm Phó bí thư tỉnh đoàn chuyên trách công tác động viên thanh niên Hà Bắc nhập ngũ chuẩn bị cho năm 1974 vào Nam chiến đấu. Năm 1974, Bắc lại sinh con gái Trần Thị Thu Thủy.

Sau ngày giải phóng miền Nam, Bắc mừng từ nay Phương sẽ được ở nhà gần vợ con. Nhưng chỉ được ít lâu, vào năm 1978, anh nhận nhiệm vụ Chủ nhiệm chính trị trung đoàn, đưa quân lên biên giới phía Bắc. Chia tay Bắc và các con để đi đánh giặc, anh định động viên, an ủi vợ vài lời nhưng Bắc dù biết rõ chồng là thương binh, còn nhiều vết đạn chưa lành hẳn, chị vẫn tranh lời chồng: “Anh cứ yên tâm đi chiến đấu. Con cái ở nhà đã có em lo, chỉ cần anh chú ý đến sức khỏe và những vết thương cũ…”.

Phương cảm động ôm lấy Bắc và thì thầm nói: “Ôi! Cô hàng rau yêu quý của anh”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn