Cô Lê Thị Bich Ngà, trạm trưởng đầu tiên và anh bộ đội Lê Trọng Oánh
Nhiệm vụ của họ ngoài giao công văn, chỉ thị đến chiến trường còn đón cán bộ chiến sĩ, thương binh và cả những tốp học sinh từ chiến trường miền Nam ra Bắc và ngược lại. Có những hôm các cô phải đón 800-900 bộ đội từ Bắc, ở chật cả khu rừng vậy mà vẫn lo chu tất. Ban đầu mấy anh bộ đội trẻ tưởng bở, dừng chân ở trạm cứ lơ là chuyện cảnh giác (vì địch có thể phát hiện) nhưng các cô rất nghiêm khiến sau đó ai qua trạm cũng kiêng dè.
Các cô sống ở trạm, lương thực, thực phẩm đều chuyển từ dưới xuôi lên. Lắm khi đứt đường lại đói quay đói quắt. Vậy là phải tự phát rẫy trồng lúa, tỉa bắp để có cái ăn. Cô Nhạn nhớ lại: “Những năm đó máy bay địch từ căn cứ Chu Lai, từ Quảng Ngãi luôn quần thảo bắn phá đêm ngày dọc đường dây giao liên và rải chất độc hóa học nên cây rừng xác xơ. Rồi biệt kích, thám báo liên tục lùng sục. Cô Nguyễn Thị Can quê ở Phổ Vinh bị phục kích hi sinh mất xác khi mới làm trưởng trạm chừng ba tháng. Cô Lê Thị Đồng trong lúc vượt sông Xà Lò, chỉ nghe hai tiếng súng vọng về, đơn vị tỏa đi tìm nhưng không còn dấu vết. Nhiều chị em có khi đón khách bị sốt rét rừng phải cõng trên lưng và cõng luôn balô của khách ở phía trước, tay cầm súng vượt sông”.
Rồi địch cũng lần ra dấu vết của trạm, chị em lại phải di chuyển đi nơi khác. Tính từ năm 1967-1975, trạm phải dời đến sáu địa điểm thuộc các xã Sơn Liên, Sơn Mùa, Sơn Dung, Sơn Màu, Sơn Tân (huyện Sơn Tây) và Sơn Thượng (huyện Sơn Hà). Gian khổ lắm, nhưng nghe tin tức từ các chiến trường dội về quân mình đang đánh lớn, chị em càng nôn nao mong đến ngày giải phóng quê hương.
|
Cô Lê Thị Bich Ngà, trạm trưởng đầu tiên và anh bộ đội Lê Trọng Oánh. Mối tình của họ bền sâu đến nay -Ảnh: V.Q.C. |
Phóng to


