“Cỗ máy phá tăng” Tô Văn Đực: Ý chí và lòng yêu nước vượt qua bom đạn
“Cỗ máy phá tăng” Tô Văn Đực: Ý chí và lòng yêu nước vượt qua bom đạn
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Tô Văn Đực được ví như “Cỗ máy phá tăng” ở cùng đất thép Củ Chi.
Anh hùng Tô Văn Đực (còn gọi là Tô Hoài Đức) sinh năm 1942 trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Tô Văn Đực là chiến sĩ quân giới của huyện Củ Chi và được mệnh danh là “anh hùng mìn gạt”.
Cha mẹ mất sớm, năm 17 tuổi Tô Văn Đực phải đi cạo mủ cao su để sinh sống và bị bọn chủ đồn điền bóc lột sức lao động một cách trắng trợn. Không chịu được cảnh làm thuê nhục nhã ấy Tô Văn Đực đã về quê tham gia lực lượng du kích, đến năm 1962 Tô Văn Đực xin vào làm ở công xưởng sản xuất vũ khí của xã.
Là một du kích mới học hết lớp 1, lại chưa biết nghề, nhưng với lòng căm thù giặc, quyết tâm chiến đấu bảo vệ quê hương và ý thức tự lực cánh sinh, sáng tạo trong lao động nhất là chế tạo vũ khí để đánh giặc. Tô Văn Đực đã ngày đêm dày công nghiên cứu, sản xuất và đã chế tạo được nhiều vũ khí có độ sát thương cao, tiêu diệt được nhiều tên địch. Trong vòng hai năm, Tô Văn Đực đã làm được 21 khẩu súng trường, 19 khẩu súng ngắn và 1 khẩu tiểu liên, cùng thời gian đó, đồng chí đã hướng dẫn cho nhiều anh em trong xưởng, sản xuất hàng loạt súng trường, súng ngắn có chất lượng tốt, cung cấp cho nhu cầu chiến đấu của xã. Và những vũ khí này đã góp phần bẻ gãy hàng chục trận càng quét của địch, tiêu diệt nhiều sinh lực của địch, buộc chúng phải dừng và hạn chế các cuộc càn quét vào xã, ấp trong một thời gian.
Đầu năm 1966, khi quân Mỹ tăng cường đánh phá vùng Củ Chi, ngoài việc liên tục dội bom, bắn pháo, rải chất độc hóa học, bọn chúng còn dùng xe tăng, thiết giáp càn quét sâu vào vùng căn cứ của ta. Lúc bấy giờ đồng chí Tô Văn Đực vừa cùng anh em sản xuất vũ khi vừa trực tiếp chiến đấu, cứ sau mỗi trận đánh, mọi người lại cùng nhay rút kinh nghiệm, tìm mội cách để cải tiến và nâng cao chất lượng các loại vũ khí khí để phục vụ chiến đấu. Cụ thể đồng chí đã nghiên cứu lấy bom bi lép của địch, sản xuất ra hai loại mìn gài và mìn gạt, hai loại mìn này được chế tạo để dễ gài và dễ sử dụng nhưng lại có hiệu suất diệt xe cơ giới rất cao. Đặc biệt, mìn kíp gạt là một sáng chế độc đáo của Tô Văn Đực, là loại mìn được chế tạo đầu tiên trên chiến trường Nam bộ, rất nhạy, diệt được cả cơ giới, trực thăng, bộ binh và loại trừ được một số thủ đoạn “đối phó” với xe tăng của địch và xưởng đã sản xuất được nhiều loại mìn chống tăng cung cấp cho xã để kịp thời đánh địch.
Và rồi kết quả sáng chế mìn gạt của đồng chí Tô Văn Đực được phổ biến và áp dụng rộng rãi trên chiến trường, với sức phá hủy hàng trăm xe tăng và xe bọc thép của giặc Mỹ, vũ khí “Mìn gạt” của Tô Văn Đực đã góp phần quan trọng vào việc phát triển phong trào chiến tranh du kích địa phương. Riêng với các loại vũ khí tự tạo của mình Tô Văn Đực đã tiêu diệt được 13 xe bọc thép, 53 tên lính Mỹ trong các cuộc chống càn bảo vệ căn cứ và cùng đồng đội đánh chìm một tàu chiến địch.
Tô Văn Đực luôn nêu cao tinh thần chấp hành kỷ luật chiến trường, Chỉ thị, Nghị quyết của cấp trên, đoàn kết, khiêm tốn, hết lòng phục vụ nhân dân. Đồng chí chưa biết cách tháo bom, nhưng không quản ngại hy sinh, xung phong đi gỡ bom, đạn lép của địch, để đồng bào yên tâm trở về xã ấp làm ăn. Vì thế đồng chí được nhân dân địa phương hết sức tin tưởng, thương yêu.
Trong những năm đánh Mỹ sau này, đồng chí được ra miền Bắc, rồi đi Liên Xô đào tạo cán bộ khoa học quân sự.
Đồng chí Tô Văn Đực được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng 3, 01 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, danh hiệu 03 Dũng sĩ diệt Mỹ, 13 dũng sĩ diệt xe tăng và được bầu là Chiến sĩ thi đua năm 1965-1966. Và tháng 9 năm 1967, Tô Văn Đực được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng và tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba.
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Tô Văn Đực luôn là một tấm gương sáng để mọi người chúng ta noi theo, đặc biệt là các thế hệ trẻ hôm nay phải luôn tự hào với truyền thống quê hương Củ Chi, truyền thống cách mạng lâu đời và luôn ghi nhớ và biết ơn những thế hệ cha, anh đã hy sinh cả tuổi thanh xuân, hy sinh sự sống để chúng ta có được một cuộc sống âm no, hòa bình và hành phúc. Vì vậy, mỗi người chúng ta đặc biệt là thế hệ trẻ phải luôn ra sức gìn giữ những thành quả cách mạng mà những người đi trước đã gầy dựng và để lại cho thế hệ sau nay.



