Bài viết

Có một “Địa ngục trần gian” của thực dân Pháp ở Kon Tum

Có một “Địa ngục trần gian” của thực dân Pháp ở Kon Tum

Tây Ninh21/04/2026Đoàn xã Vĩnh Châu (Đoàn xã Vĩnh Châu)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ở cuối đường Trương Quang Trọng (phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum) có một Di tích lịch sử cấp Quốc gia – Nhà ngục Kon Tum. Đây được ví là “địa ngục trần gian” ở Bắc Tây Nguyên; nơi chứng tích tội ác của thực dân Pháp và ghi dấu ấn một thời hào hùng của hơn 500 chiến sĩ cách mạng – những người tù cộng sản đã đấu tranh kiên cường, bất khuất và nhiều người đã anh dũng hy sinh vì Tổ quoc. Để đối phó với phong trào yêu nước chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đang dâng cao, vào những năm 1915 – 1917, thực dân Pháp cho xây dựng Nhà ngục Kon Tum, gồm Lao Trong và Lao Ngoài. Ban đầu, chúng giam giữ thường phạm. Đến năm 1930, trở thành nơi lưu đày, hãm hại những nhà ái quốc chống Pháp. Tại đây, chúng thiết lập những nơi giam cầm, đày ải và tra tấn dã man như thời Trung cổ, hòng dập tắt ý chí của những nhà hoạt động cách mạng yêu nước.Thất bại và sợ hãi trước cao trào Xô Viết – Nghệ tĩnh (1930 – 1931), thực dân Pháp đã đưa ra chiêu bài “đi tự do sinh hoạt” và lần lượt đưa các đoàn tù chính trị ở các tỉnh đồng bằng và từ Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên – Huế đến giam cầm ở Nhà ngục Kon Tum. Trong đó, người tù chính trị đầu tiên là đồng chí Ngô Đức Đệ, giam tại đây vào đầu tháng 6/1930. Tiếp đó, từ tháng 12/1930 – 3/1931, số lượng tù chính trị giam cầm tại Nhà ngục Kon Tum lên đến gần 300 người.Lợi dụng nơi rừng thiêng, nước độc, chúng thực hiện âm mưu “giết dần, giết mòn” những người cộng sản và thực hiện chế độ cai trị, bóc lột vô cùng tàn bạo. Sự kiện mang rợ nhất là thi công đường 14, từ Đăk Pao đến Đăk Pék, thực dân Pháp đã bắt tù chính trị ra công trường làm việc quần quật suốt ngày với cuộc sống, sinh hoạt vô cùng tồi tàn; đói khát, ốm đau, bệnh tật, sốt rét, kiết lỵ hoành hành mà không được cứu chữa, lại thường xuyên hứng chịu những trận đòn roi tàn bạo, những chiêu trò giết người man rợ của bọn cai, đội và binh lính.Chỉ trong 6 tháng, thi công đoạn đường 15 km, có phân nửa tù chính trị bị chết thảm, những người sống sót cũng chỉ còn “da bọc xương, bệnh tật đầy người”. Dù chế độ lao tù hà khắc, nhưng không thể khuất phục ý chí của các chiến sĩ cộng sản. Họ biến nhà tù thành trường học cách mạng. Và, “những hạt giống cách mạng” lần lượt được gieo xuống mảnh đất Kon Tum. Các anh đã kiên trì, đấu tranh bền bỉ, tuyên truyền, cảm hoá những binh lính ngay trong hàng ngũ của địch; đồng thời, liên kết thành lập tổ chức Đảng Cộng sản. Ngày 25/9/1931, Chi bộ binh là tổ chức Đảng đầu tiên ở Bắc Tây Nguyên được thành lập, do đồng chí Ngô Đức Đệ làm Bí thư và 3 đảng viên là những ông cai, ông đội trong hàng ngũ lính khố xanh của thực dân Pháp.Ngay khi ra đời, Chi bộ binh đã khôn khéo, bí mật tổ chức tuyên truyền về lý tưởng cộng sản, cảm hoá, xây dựng cơ sở Đảng, đến tháng 3/1931, Chi bộ kết nạp được 17 đảng viên và không ngừng phát triển ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng và binh lính ngoài nhà lao, kết nối, liên lạc với Xứ ủy Trung kỳ và thành lập Chi bộ ngoài nhà lao (còn gọi là Chi bộ đường phố).Trước sự tàn bạo của kẻ thù, 2 chi bộ đã phối hợp thực hiện kế hoạch tuyên truyền, phát động quần chúng nhân dân thị xã Kon Tum phản đối sự đàn áp của địch, vạch rõ thủ đoạn gây chia rẽ dân tộc; vạch trần tội ác của thực dân Pháp đối với tù chính trị khi làm đường ở Đăk Pao. Tuy nhiên, một số đảng viên trong Chi bộ binh bị địch địch bắt, phân tán, mất liên lạc, dần dần bị tan rã.Tuy vậy, các cựu tù chính trị đã thành lập Ban lãnh đạo trong Nhà ngục và hạ quyết tâm:Muốn sống, không có con đường nào khác ngoài con đường đấu tranh. Muốn bảo đảm cuộc đấu tranh thắng lợi, nhất định chúng ta phải làm cho anh em đoàn kết nhất trí, có quyết tâm cao. Phải đấu tranh kiên quyết, bền bỉ, có kế hoạch chu đáo”. Ban lãnh đạo chủ trương tổ chức tuyên truyền, vận động binh lính, liên lạc với các đảng viên Chi bộ binh còn lại, quan hệ với các cơ sở quần chúng trong thị xã Kon Tum, liên lạc với Nhà ngục Kon Tum… không ngừng củng cố, kiện toàn tổ chức.Từ trong gian khổ, qua tập luyện, đấu tranh tinh thần, khí thế các chiến sĩ cách mạng ngày càng được tôi luyện, dâng cao. Từ đây, những Đội Cảm tử, Quyết tử đã ra đời, sẵn sàng cho một cuộc đấu tranh sống còn với kẻ địch, mà đỉnh cao là cuộc đấu tranh “Lưu huyết” vang dậy núi rừng của các tù chính trị phản đối việc bắt tù nhân đi làm đường 14 lần thứ hai.Với quyết tâm đấu tranh đến cùng, sáng ngày 12/12/1931, khi bọn cai ngục thực hiện chính sách ly gián tù nhân và chuẩn bị đưa một số tù còn lại lên Đăk Pét làm đường, đã gặp phải sự đấu tranh quyết liệt của tù chính trị ở Lao ngoài, trong đó có nhiều đồng chí trong Đội Cảm tử, Quyết tử và Ban phụ trách nhà lao, anh em tù phạm đã đồng tâm đóng chặt cửa, hô vang khẩu hiệu “Phản đối đi làm đường”, “Phản đối chế độ thực dân cai trị”, kiên quyết không chịu lên công trường Đăk Pék; phải bãi bỏ chế độ bắt tù chính trị đi làm đường; phải bỏ chế độ bắt giết đánh đập tù phạm; phải biệt đãi tù chính trị…Trước sự phản đối quyết liệt của ta, công sứ, giám binh và nhiều binh lính đã kéo đến vây ráp, điên cuồng nã đạn tàn sát tù nhân làm 8 người chết, 8 người bị thương. Sau khi bắn chết tù chính trị, chúng kéo 8 đồng chí hy sinh ra cạnh sân lao vùi chôn một hố tại nơi này và tiếp tục vây bắt một số người không bị thương, còng tay áp tải đi làm đường ở Đăk Sút; số còn lại, chúng dồn ép tất cả vào Lao trong.Với niềm đau thương vô hạn, nỗi uất hận khôn lường, các tù phạm đã đoàn kết siết chặt và tuyệt thực để phản đối chính sách cai trị, cùng với đó đưa ra Bản tuyên ngôn chính trị và yêu sách của tù nhân đối với chính quyền thực dân Pháp. Cuộc đấu tranh cứ thế tiếp diễn và ngày một sục sôi hơn, đến sáng ngày 16/12/1931, thực dân Pháp một lần nữa nã đạn tàn sát cuộc đấu tranh “Tuyệt thực”, làm 7 đồng chí hy sinh và 8 đồng chí bị thương.Cuộc đấu tranh “Lưu huyết” và “Tuyệt thực” của các chiến sĩ cộng sản tại Nhà lao gây tiếng vang lớn trong dư luận thế giới về quyền tự do công lý và nhân phẩm con người; làm cho nhân dân trong nước và trên thế giới thấy rõ hơn về chính sách cai trị lao tù tàn bạo, vô nhân đạo của thực dân Pháp ở Đông Dương. Cuộc đấu tranh đã buộc chính quyền thực dân Pháp phải thay đổi chế độ cai trị hà khắc, chấp nhận nhượng bộ theo yêu sách của các tù chính trị đưa ra, từ bỏ việc sử dụng tù chính trị làm đường. Đến năm 1934, bộ máy Nhà ngục Kon Tum giải tán, bỏ hẳn Nhà lao Kon Tum.Cuộc đấu tranh kiên quyết, kiên trì, bền bỉ, vượt lên bao nhiêu đau thương, hà khắc ấy đã thế hiện bản lĩnh, khí phách hiên ngang của các chiến sĩ cộng sản trung trinh trước lưỡi lê, họng súng bạo tàn của quân thù; thể hiện ý chí khát vọng vươn lên giành độc lập, tự do, đấu tranh giải phóng dân tộc, cho Tổ quốc quyết sinh. Tên tuổi của các đồng chí như: Trương Quang Trọng, Nguyễn Huy Lung, Đặng Thái Thuyến, Lê Trọng Kha, Võ Am; Nguyễn Phi; Lương Thu Tâm, Phạm Thoan; Võ Thuyên; Nguyễn Hoàn; Bùi Đạt; Trần Hữu Dương; Hoàng Văn Bá; Nguyễn Hào; Nguyễn Mạo Khuê… đã tạc vào trang sử vàng chói lọi, được bao thế hệ người dân Kon Tum nói riêng và cả nước nói chung khắc ghi trong tâm trí về chủ nghĩa anh hùng dân tộc.Với giá trị và ý nghĩa lịch sử vô cùng quý giá, ngày 16/11/1988, Bộ Văn hoá, Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã xếp hạng Di tích Nhà ngục Kon Tum là Di tích lịch sử Quốc gia. Ngày 21/11/2022, Chủ tịch nước đã ban hành Quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho Tập thể chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày tại Ngục Kon Tum. Tại buổi lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng, đồng chí Dương Văn Trang – Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Kon Tum nhấn mạnh: Đây là niềm vinh dự, có ý nghĩa quan trọng đối với Đảng bộ, quân và nhân dân các dân tộc tỉnh Kon Tum và thân nhân cựu tù chính trị bị địch bắt, tù đày tại Ngục Kon Tum. Ghi dấu sự hy sinh anh dũng, bất khuất của các chí sĩ cộng sản trong gông cùm, xiềng xích, lấy ý chí làm vũ khí, dũng cảm đứng lên chống lại kẻ thù, chống lại chính sách áp bức, bóc lột hà khắc của thực dân và tay sai với tinh thần quyết tử, xả thân vì mục tiêu “chết để sống”, “chết một người để cứu muôn người””.Tiếp nối truyền thống của những chiến sĩ cách mạng tại Nhà ngục Kon Tum năm ấy, lớp lớp các thế hệ cán bộ, quân và dân các dân tộc Kon Tum đã đứng lên đấu tranh anh dũng chống lại các kẻ thù xâm lược; từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, phát xít Nhật rồi đến đế quốc Mỹ, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, quân và dân đã viết tiếp lên mảnh đất Kon Tum những chiến công oai hùng như: Chiến thắng Đăk Pét, Măng Bút, chiến thắng Măng Đen, Đăk Tô – Tân Cảnh… làm nức lòng nhân dân yêu tự do, hòa bình trên thể giới, góp phần tô thắm thêm trang sử vẻ vang của dân tộc.94 năm đã trôi qua, hình ảnh những người tù chính trị ngã xuống vì độc lập, tự do cho đất nước, vì lý tưởng cao cả của Đảng như sống mãi trong triệu triệu trái tim của bao thế hệ hôm nay và mai sau. Nhìn lại quá khứ hào hùng, sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ cách mạng tại Ngục Kon Tum, cảm nhận và tri ân sâu sắc trước những mất mát đau thương mà kẻ thù đã gây ra cho dân tộc Việt Nam; qua đó, mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân tỉnh Kon Tum càng hun đúc thêm truyền thống đoàn kết, lòng yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường vươn lên trong cuộc sống.Được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, thế hệ hôm nay noi gương các thế hệ cha anh, tự rèn, học tập. Cán bộ, đảng viên, quân và các tầng lớp nhân dân Kon Tum đoàn kết, đồng lòng, tiếp tục phát huy truyền thống quê hương, tận dụng thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thử thách, quyết tâm đem hết khả năng, tinh thần, ý chí và nghị lực, ra sức xây dựng và đưa tỉnh Kon Tum phát triển nhanh và bền vững, xứng đáng với sự hy sinh của lớp lớp thế hệ cha anh đi trước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn