Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Cô Nguyễn Thị Đời Nhân chứng lịch sử

Cô Nguyễn Thị Đời tham gia kháng chiến từ năm 1967, công tác tại khu binh vận Trung Nam Bộ. Giữa muôn vàn gian khổ, hiểm nguy, cô vẫn kiên cường bám trụ, không lùi bước. Sự hy sinh thầm lặng của cô là minh chứng cho lòng yêu nước son sắt.

Đồng Tháp13/02/2026Nhóm Tác giả trường Mầm non Bình Minh (phường Trung An)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Câu chuyện thời hoa lửa: Người phụ nữ giao liên buất khuất

Họ và tên đầy đủ của nhân chứng: Nguyễn Thị Đời (Bí danh hoạt động Út)

Năm sinh của nhân chứng: 1953

Phân loại nhân chứng: Tham gia trực tiếp

Mô tả ngắn:

Cô Nguyễn Thị Đời tham gia kháng chiến từ năm 1967, công tác tại khu binh vận Trung Nam Bộ. Giữa muôn vàn gian khổ, hiểm nguy, cô vẫn kiên cường bám trụ, không lùi bước. Sự hy sinh thầm lặng của cô là minh chứng cho lòng yêu nước son sắt.

Bài viết:

Công việc đầu tiên của cô là trực tiếp đưa đón, bảo vệ cán bộ cao cấp Ba Hòa Hiệp đi họp, hoạt động tại các địa bàn Hưng Long, Bình Trưng, Tân Hội Bình, Ninh An, Thạnh Thủy, Hòa Định, Chợ Gạo. Cô cùng đồng chí cải trang, đóng vai để qua mắt địch; có lúc phải đưa cán bộ về giấu ngay tại nhà mình, che chắn qua hai thùng nước, vừa làm giao liên, vừa truyền tin trong vùng kháng chiến “xôi đậu”. Mỗi khi có lính, cô lập tức dẫn cán bộ xuống hầm bí mật, giữ an toàn giữa ranh giới sinh tử.

Năm 1969, trong lúc làm nhiệm vụ, cô bị địch bắt tại nhà tên Chín Cao. Trên đường giải đi Khám Đường số 1 (Mỹ Tho), cô bị đánh đập dã man, tra tấn bằng điện, rồi chuyển qua nhiều nơi giam giữ: An Ninh Quân đội, Công an Cây Khế, Khám đường Mỹ Tho. Trong lao tù, cô cùng đồng đội chịu đói khát, cơm gạo lứt lẫn sỏi đá, có sự đoàn kết của đồng đội lựa dạo trong bao chỉ xanh bị địch phát hiện tiếp tục trộn sỏi đá, bị cùm chân, bỏ đói, cấm thăm nuôi, tiêu tiểu tại chỗ trong thạp nhỏ, tra tấn tàn bạo, nhưng vẫn kiên cường đấu tranh không khuất phục. Cuối năm 1969, được trả tự do, cô tiếp tục tham gia kháng chiến làm giao liên — một người phụ nữ nhỏ bé mang trong mình ý chí thép, nỗi đau khắc cốt và niềm tự hào không gì lay chuyển.

Sau khi ra tù, cô lại tiếp tục dấn thân vào kháng chiến, làm giao liên trong đơn vị 207. Được đội trưởng, đội phó tin cậy, cô trực tiếp điều tra hoạt động của cảnh sát ngụy tại khu vực đường Lý Thường Kiệt, âm thầm ghi nhận từng lô cốt, hàng rào bê tông B40 cao – thấp để vẽ sơ đồ phục vụ các đồng chí Ba Hồng, Ba Nhu tổ chức đánh úp, triệt phá mục tiêu trong các năm 1970–1975. Mỗi bước đi là một lần đối mặt hiểm nguy, nhưng cô vẫn lặng lẽ hoàn thành nhiệm vụ trong hồi hộp nghẹt thở.

Sau ngày đất nước giải phóng, ông Phạm Văn Thi – Công an thành phố – trực tiếp cho xe đón cô tham gia công tác bảo vệ an ninh trật tự. Cô được giao nhiệm vụ theo dõi, lập hồ sơ các đối tượng phản động, tàn quân âm mưu cướp chính quyền, thường gọi là “Sư đoàn Tiền Giang”; đồng thời vận động phụ nữ phường 4 tham gia giám sát địa bàn, xây dựng cơ sở quần chúng, tạo các tình huống nghiệp vụ để nắm địa chỉ, phối hợp chặt chẽ với Công an phường phá án. Với những đóng góp bền bỉ, cô được nhận giấy khen của Công an tỉnh và thành phố (1976), sau đó năm 1978 chuyển sang ngành quản lý đô thị, công tác cho đến khi nghỉ hưu năm 2024 - khép lại một đời cống hiến thầm lặng mà oanh liệt.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn