Có những phút làm nên lịch sử
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Tô Vĩnh Diện là một trong những Anh hùng không chỉ góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của trận đánh, mà còn là tấm gương hy sinh ngời sáng về tinh thần gan dạ, kiên cường. Sự hy sinh của ông đã trở thành bất tử trong lòng nhân dân, được bạn bè thế giới ngưỡng mộ, vinh danh.
Cho đến bây giờ, sau 70 năm kể từ ngày Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, hình ảnh Anh hùng Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn pháo vẫn mãi kiêu hùng đẹp đẽ. Dẫu đã trở thành biểu tượng của đức hy sinh quên mình vì dân tộc, dẫu đã khắc sâu trong tâm khảm của thế hệ người Việt về hình ảnh anh Bộ đội Cụ Hồ của thế kỷ XX; song không phải ai cũng tường tận chuyện Anh hùng Tô Vĩnh Diện hy sinh trong trận chiến đấu khốc liệt ngày ấy?
70 năm trôi qua, chính sử vẫn còn nguyên vẹn chuyện Anh hùng Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn pháo được ngợi ca, truyền tụng mang thông điệp của khát vọng hòa bình, đại diện cho triệu triệu người dân đất Việt vào giữa thập niên 50 của thế kỷ trước.
Để chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ, cùng với các loại vũ khí như DKZ-82B10, P40, P41 và các loại súng bộ binh như đại liên, tiểu liên AK, thì hai khẩu pháo loại 105mm và cao xạ 37mm được đưa đến chiến trường. Nhưng đưa pháo vào trận địa bằng cách nào vừa bảo đảm an toàn bí mật, vừa kịp thời và khẩn trương triển khai đội hình chiến đấu là cả một kế hoạch hành quân gian khổ.
Trong khi đó, lực lượng ta mỏng, địa hình hiểm trở, nhiều dốc cao, vực sâu, rừng rậm chằng chịt và liên tục bị quân địch trinh thám dò la kiểm soát bằng không quân. Trước tình hình ấy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ quyết định: “Huy động lực lượng tại chỗ, kéo pháo vào trận địa bằng sức người, hành quân ban đêm, bảo đảm tuyệt mật”. 2 khẩu pháo hạng nặng loại 105mm và cao xạ 37mm do Liên Xô sản xuất lúc đó được coi là “gia bảo quốc gia” khẩn trương được chằng dây, ngụy trang cho cuộc hành quân bí mật. Sau 3 ngày vận chuyển từ Tuần Giáo, Lai Châu, trưa 16/1/1954, 2 khẩu pháo được tập kết tại km63, đường 42.
Cuộc hành quân bắt đầu từ đêm 16/1/1954. Với tinh thần quyết tâm “bằng sức người, pháo vào trận địa”, các chiến sĩ Điện Biên và công binh sử dụng dây thừng, dây dù, dây rừng tại chỗ để kéo pháo. Có chỗ phải vượt qua núi cao 1.450m, kéo pháo lội qua dòng suối chảy xiết do nước mưa rừng đổ về. Mặc cho trời rét căm căm, mặc cho núi cao, đèo dốc, vực thẳm, rừng chằng chịt, các chiến sĩ Điện Biên vẫn kiên cường kéo pháo. Tất cả không ai chùn bước.
Trước tình hình phòng ngự kiên cố của địch, để thay đổi chiến thuật, ngày 26/1/1954, Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định đổi phương án tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Các đơn vị pháo nhận được mệnh lệnh phối hợp với các đơn vị bộ binh kéo pháo trở ra. Đơn vị của Tô Vĩnh Diện được lệnh kéo pháo ra điểm tập kết tại bản Bắng Hôm để ăn Tết Nguyên đán Giáp Ngọ và chờ lệnh mới.
Ngày 1/2/1954, đơn vị của ông trên đường kéo pháo ra, đến một con dốc cao và hẹp ở gần Bản Chuối, ông cùng một pháo thủ phụ trách điều khiển càng pháo để chỉnh hướng cho một đơn vị bộ đội kéo dây tời giữ pháo, bất ngờ quân Pháp bắn pháo từ Mường Thanh lên. Đơn vị kéo giữ pháo nằm rạp xuống, đồng thời dây tời bị đứt. Pháo mất đà lăn qua, pháo thủ Lê Văn Chi bị càng pháo hất xuống vực. Pháo tiếp tục mất đà trôi dần về phía sau. Trước tình thế ấy, Tô Vĩnh Diện đã dùng sức cố đẩy để càng pháo đâm vào vách núi. Tuy cản được pháo lăn xuống vực, nhưng ông bị bánh xe của khẩu pháo nặng hơn 2 tấn đè lên người trọng thương. Giây phút cuối cùng trước khi hy sinh, khi được đồng đội đưa ra để đi cấp cứu, ông vẫn còn hỏi: “Pháo có việc gì không?”.



