CÓ NHỮNG TRẬN ĐÁNH NHƯ THẾ
Đoạn hồi ký kể lại hoạt động chiến đấu của Trung đoàn 12 tại khu Đông tỉnh Bình Định vào cuối năm 1967, trong giai đoạn chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Đơn vị hành quân vào căn cứ Núi Bà – một địa bàn chiến lược giữa vùng địch kiểm soát, nơi thiên nhiên với nhiều hang đá và địa hình hiểm trở đã trở thành căn cứ quan trọng cho lực lượng cách mạng. Trong quá trình hoạt động, đơn vị phải đối mặt với nhiều cuộc càn quét lớn của quân Nam Triều Tiên, bom đạn ác liệt và điều k
Cuối năm 1967, Trung đoàn 12 được lệnh biệt phái vào khu Đông tỉnh Bình Định để chuẩn bị cho Tổng tiến công Xuân Mậu Thân (1968). Lúc đó, tôi là chính trị viên Đại đội 53, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 12. Không một ai biết về quy mô chiến dịch xuân 1968, nhưng ai cũng biết vào khu Đồng là vào giữa vùng địch kiểm soát, vào một vùng mà bọn địch tuyên truyền rằng chúng đã đuổi sạch Cộng sản, “bình định” xong vùng nông thôn trù phú sát phía bắc thị xã Quy Nhơn.
Nhìn bề ngoài thì đúng như vậy thật. Lúc đó, cả vùng đất phía đông Phù Cát, phía bắc Quy Nhơn hầu như là một vùng trắng. Làng xóm không còn nhà cửa, cây dại mọc um tùm. Ngoài đồng chỉ có cỏ với cỏ, có nơi cỏ ngập đầu người. Mùa khô, nước rút xuống sông, để lại từng hố bom, tôm cá nhiều vô kể, làm mồi cho chó và mèo hoang. Vùng đất mà chúng nói có thể đặt vào lồng kính để minh chứng cho sự thành công của chiến lược “bình định” nông thôn là như thế đó. Dân cư bị chúng dồn vào các ấp ven trục lộ và quanh thị trấn, thị tứ như chợ Gốm, Phù Ly, Đề Dy, Đập Đá v.v....
Giữa khu Đông mênh mông đó, tạo hóa đã kiến tạo nên một ngọn núi cao 318m, gọi là Núi Bà, trên đỉnh có một hòn đá rất lớn mà nhân dân gọi là Hòn Vọng Phu. Núi Bà nằm gọn trọng địa phận huyện Phù Cát, sát bờ biển Đông, cây cối lúp xúp ở lưng chừng núi. Trên đỉnh là cỏ tranh, chỉ các khe suối là có cây cối tương đối cao. Điều kỳ diệu là có rất nhiều hang đá, có những hang đá liên hoàn suốt một con suối, nước ngầm chảy dưới hang. Có những khu vực, đá tảng rất to nhưng lại nằm xen giữa cây cối um tùm... Đúng là thiên nhiên đã ban tặng cho Cách mạng một khu căn cứ lý tưởng để đương đầu với bom đạn giặc Mỹ. Không có Núi Bà thì cơ sở Cách mạng Khu Đông tỉnh Bình Định không thể tồn tại được.
Địch rất biết sự lợi hại của địa thế Núi Bà nên suốt 2 năm 1966-1967 càn đi quét lại không biết bao nhiêu lần. Nhưng địch càn phía trước ta lại vòng phía sau, địch càn phía Tây ta lại vòng ra phía Đông v.v... chúng không sao quét sạch được cơ sở của ta. Khi chúng tôi vào Núi Bà thỉnh thoảng lại gặp những hang đá sặc mùi chất độc hóa học, trong đó có rất nhiều xương người ngổn ngang. Hỏi ra mới biết đó là những gia đình đồng bào không chịu khuất phục chế độ Ngụy, lên núi, lấy các hang đá làm nhà. Bọn Nam Triều Tiên càn quét kêu gọi đầu hàng không được đã ném lựu đạn hóa học vào giết chết cả gia đình họ ....
Bên trong sự hoang tàn đầy vẻ chết chóc ấy, lúc bấy giờ đã sục sôi một cuộc bạo động Cách mạng. Đêm đêm, từng tổ chiến sỹ trinh sát, từng tổ chiến sỹ giao liên, từng tổ chiến sỹ thông tin âm thầm dẫn các đoàn quân từ các ngả tiến vào Núi Bà. Họ đi xuyên qua các tuyến bố phòng bằng mìn của địch, có khi đi sát căn cứ bọn Nam Triều Tiên để vào Núi Bà. Phải mất một tháng, Trung đoàn 12 mới đưa hết đội hình vào các vị trí đóng quân ở Núi Bà.
Từ các nguồn tình báo và phát hiện một số dấu vết do ta để lại qua các cuộc hành quân, bọn Nam Triều Tiên tổ chức cuộc càn lớn, cỡ trung đoàn vào Núi Bà để truy quét, tiêu diệt, đẩy lực lượng ta ra khỏi dãy núi lợi hại này.
Theo quy luật, thông thường trước mỗi cuộc càn, địch cho ném bom, bắn pháo cực kỳ dã man rồi mới đổ quân. Nhưng lần này, có lẽ chúng định đánh bất ngờ nên chỉ bắn pháo vài tiếng đồng hồ vào các khu vực nghi vấn rồi ào ạt đổ quân xuống vùng Sơn Lại Sứ, một khu vực khá bằng phẳng ở mạn phía tây núi Bà. Ở đây chỉ có những gộp đá nửa nổi nửa chìm chen lẫn các bụi cây lúp xúp. Từ đây, chúng chia quân đi lùng sục, phục kích các con đường mòn ta hành quân di chuyển. Ta chủ trương chỉ đánh nhỏ lẻ như du kích để bảo tồn lực lượng và bí mật quân chủ lực. Bọn Nam Triều Tiên ranh ma, chỉ qua tiếng súng đã biết chủ lực ta xuất hiện. Thế là chúng tăng thêm quân và tăng những đợt ném bom, bắn phá vào các khe đá nghi ngờ ta giấu quân.
Tại trạm Mật, thôn Tân Hóa, xã Cát Hanh, nơi đứng chân của Tiểu đoàn 4, địch đã ném bom suốt 2 ngày liền. Một con suối dày đặc hang đá to lớn bị bom nghiền nát như bãi đã vôi. Bụi đá bốc lên mù mịt. Chưa đánh trận nào mà Tiểu đoàn 4 đã thiệt hại nặng nề. Đồng chí Chính ủy Trung đoàn 12, Lê Hoài Thanh hôm đó hành quân cùng Tiểu đoàn 4 đã bị thương nặng, may nhờ có chiến sỹ cần vụ Lê Huy Liệu dũng cảm cõng ra khỏi vòng vây quân Nam Triều Tiên mới thoát nạn.
Tiểu đoàn 5 được lệnh cơ động đánh vào sau lưng địch để kéo giãn chúng ra. Địch lại thêm quân đối phó với Tiểu đoàn 5. Đại đội 51, Đại đội 52 (Tiểu đoàn 5) đã đánh một trận tao ngộ chiến ở Sơn Lại Sứ, tiêu diệt gần hết một Đại đội Nam Triều Tiên, bắt sống 5 tên lính Nam Hàn (nhưng ta khó khăn trong việc dẫn dắt và nuôi tù binh nên đã nhét truyền đơn vào túi chúng rồi phóng thích tại trận).
Đại đội 53 của tôi lúc đó có nhiệm vụ bảo vệ Bệnh xá Trung đoàn. Suốt 3 ngày liền đánh địch bật khỏi suối đá để bảo vệ thương binh. Đơn vị rơi vào tình trạng hết gạo ăn. Cả đại đội gần 60 người chỉ còn nửa ruột nghé gạo ( khoảng 3kg). Thấy bộ đội đánh giặc bị đói, đồng chí Phúc, Chính trị viên Bệnh xá cử người mang sang chi viện cho Đại đội nửa ruột nghé gạo (khoảng 3kg). Anh chuyển lời cho tôi rằng: một miếng khi đói bằng một gói khi no. Đây là tấm lòng của anh em thương binh, mong các anh đánh thắng giặc thì gần 20 thương binh của Bệnh xá mới bảo đảm an toàn.
Như vậy, cả Đại đội có khoảng 6kg gạo. Nếu nấu cơm không được mỗi người một bát, nhưng lúc đó cũng không thể nổi lửa để nấu cơm vì địch ở xung quanh, lại chiếm các mỏm núi nên rất dễ bị chúng phát hiện.
Tôi phải triệu tập Chi bộ họp chớp nhoáng, chuyên đề bàn cách lãnh đạo bộ đội giữ vững ý chí chiến đấu và bàn phương hướng sử dụng số gạo thế nào cho có hiệu quả. Chi bộ lúc đó có 5 đảng viên, gồm tôi, đồng chí Xanh, đại đội trưởng, đồng chí Vinh, đại đội phó, đồng chí Thăng, tiểu đội trưởng Tiểu đội hỏa lực thượng liên và đồng chí Thoảng, trung đội trưởng. Rà xét quyết tâm chiến đấu ai cũng yên lòng vì bộ đội vẫn vững vàng, nhưng trong tâm tư ai cũng lo hết gạo, bộ đội sẽ mất sức chiến đấu. Giữa khu chiến, bên ngoài không tiếp tế lương thực vào được. Tôi nêu vấn đề: chỉ có tích cực đánh địch mới bảo vệ được mình, đẩy chúng ra mới có đường sống. Chi bộ biểu quyết và tinh thần đó đã được tất cả cán bộ chiến sỹ nhất trí. “Hết gạo cũng đánh, đánh để có đường đi lấy gạo”. Đó là quyết tâm của mọi người lúc ấy. Trước mắt, số gạo hiện còn 6kg, phải sử dụng thế nào đây? Sau khi thảo luận, Chi bộ nhất trí, mỗi người mỗi bữa được 2 thìa gạo nhai sống để lấy chất bột, còn lại là tìm rau rừng (rau diếp dại), lá rừng (lá bứa, lá giang), quả rừng (sim, ổi) để ăn. Anh em thương binh và bộ phận hỏa lực tiêu chuẩn khá hơn chút ít. Đúng là “tình thế như thế nên đành phải thế” không còn cách nào hơn.
Đồng chí Đỗ Đức Xanh. Đại đội trưởng (quê Thanh Miện, Hải Dương) đã qua cương vị Trung đội trưởng, Đại đội phó phụ trách hậu cần, vốn có tác phong tỉ mỉ, chặt chẽ, giờ đây được giao nhiệm vụ quản lý và phân phát số gạo đúng Nghị quyết Chi bộ. Ai cũng yên tâm.
Suốt một tuần lễ sau đó, Đại đội tôi liên tục chiến đấu 5 trận với một tiểu đoàn quân Nam Triều Tiên. Khi bọn địch chủ động đánh vào Đại đội thì Đại đội lại luồn lách ra nơi khác để chúng đánh vào chỗ trống. Khi địch dừng lại phục kích thì ta lại chủ động tập kích. Tuy đánh nhỏ lẻ cỡ Đại đội, Trung đội nhưng ta hoàn toàn chủ động theo cách đánh của mình, làm cho tiểu đoàn quân Nam Triều Tiên bị tiêu hao đáng kể. Những trận đánh của Đại đội tôi và Tiểu đoàn 5 đã có tác dụng kéo dãn địch ra, tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 6 cùng các lực lượng của Tỉnh tiến sâu vào phía Nam, chuẩn bị cho chiến dịch Mậu Thân 1968.
Sau đợt chiến đấu, Đại đội rút kinh nghiệm. Ai cũng phấn khởi vì đã vượt qua được thử thách khắc nghiệt ban đầu để trụ đứng ở khu Đông Bình Định. đồng chí Trần Văn Soạn, một sinh viên khoa Văn Trường đại học Sư Phạm đã làm 4 câu thơ khá thú vị:
Bảy ngày 5 trận có sao đâu
Thắng trận như xưa thắng trận đầu
Gạo hết, rau rừng ăn lót dạ
Bảy ngày 5 trận đã sao đâu!
Ngày xưa, các cụ ta có câu “Bảy ngày 3 bão biết cây cứng mềm”. Vận vào Đại đội tôi trong đợt hoạt động này “Bảy ngày 5 trận” có lẽ phải cứng hơn sắt thép.
Đối với tôi, đó là một trong những kỷ niệm không bao giờ quên. Không có những người lính như thế thì không thể có những trận đánh như thế. Và nhờ đó mà cuộc kháng chiến chống Mỹ của chúng ta mới toàn thắng!



