Người có công giúp đỡ cách mạng

Cố thủ tướng Võ Văn Kiệt

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (23 tháng 11 năm 1922 - 11 tháng 6 năm 2008) tên thật Phan Văn Hòa, bí danh Sáu Dân, Chín Dũng, là nhà chính trị Việt Nam. Từ ngày 8 tháng 8 năm 1991 đến ngày 25 tháng 9 năm 1997, đồng chí Võ Văn Kiệt làm Thủ tướng Chính phủ là Thủ tướng thứ tư của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Trong công cuộc đổi mới và cải cách chính sách ở nước ta, đồng chí Võ Văn Kiệt đã có nhiều đóng góp to lớn để thúc đẩy sự nghiệp đổi mới đất nước thành công, được báo chí và Nhân dân tr

Cần Thơ04/12/2025Phạm Thị Thùy Trang (Chi đoàn Trường Mầm Non Hoa Cúc)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Cố thủ tướng Võ Văn Kiệt

Chi Đoàn Trường Mầm Non Hoa Cúc

BÀI VIẾT VỀ CHỦ ĐỀ: “CÂU CHUYỆN HOA LỬA”

--------------------

BÀI VIẾT VỀ NHÂN VẬT LỊCH SỬ: CỐ THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT

Đồng chí Võ Văn Kiệt tên khai sinh là Phan Văn Hòa, bí danh: Sáu Dân; sinh ngày 23/11/1922, tại xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm - Vĩnh Long.

Năm 1938, đồng chí Võ Văn Kiệt tham gia cách mạng năm 16 tuổi trong phong trào Thanh niên phản đế.

Tháng 11 năm 1939, đồng chí Võ Văn Kiệt được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Là Huyện ủy viên, Bí thư chi bộ tại huyện Vũng Liêm trong thời gian Khởi nghĩa Nam Kỳ.

Sau Cách mạng Tháng Tám, khi quân đội Pháp tái chiếm Nam Kỳ, đồng chí Võ Văn Kiệt là Ủy viên chính trị dân quân cách mạng liên tỉnh Tây Nam Bộ.

Từ năm 1946 đến năm 1954, đồng chí Võ Văn Kiệt là Tỉnh ủy viên, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Rạch Giá, sau đó là Phó Bí thư rồi Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu.

Sau Hiệp định Geneve, năm 1955, đồng chí Võ Văn Kiệt được bầu làm Ủy viên Xứ ủy Nam Bộ và Phó Bí thư liên Tỉnh ủy Hậu Giang.

Từ năm 1959 đến cuối năm 1970, đồng chí Võ Văn Kiệt được tín nhiệm làm Bí thư Khu ủy T.4, tức khu Sài Gòn - Gia Định.

Đại hội III (9/1960) đồng chí Võ Văn Kiệt được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương của Đảng Lao động Việt Nam.

Từ năm 1973 đến năm 1975 đồng chí Võ Văn Kiệt được điều về làm Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục miền Nam.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Văn Kiệt được Trung ương Cục phân công giữ chức Bí thư Đảng ủy đặc biệt trong Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn.

Từ năm 1976 đồng chí Võ Văn Kiệt làm Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đại biểu Quốc hội khóa VI.

Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IV (1976), đồng chí Võ Văn Kiệt được bầu làm Ủy viên Dự khuyết Bộ Chính trị và được phân công làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 1982.

Từ tháng 4 năm 1982 đồng chí Võ Văn Kiệt được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch nhà nước, và Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng, và là đại biểu Quốc hội khóa VII.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (1982), VI (1986), VII (1991) đồng chí Võ Văn Kiệt tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị.

Tháng 2/1987, đồng chí Võ Văn Kiệt là đại biểu Quốc Hội khóa VIII và giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Chủ tịch Thường trực, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng.

Từ ngày 10/3 đến ngày 22/6/1988, đồng chí Võ Văn Kiệt được giao nhiệm vụ Quyền Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Sau khi đồng chí Đỗ Mười trúng cử Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đồng chí Võ Văn Kiệt vẫn tiếp tục làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

Từ năm 1987 đến năm 1991, đồng chí Võ Văn Kiệt làm Phó Thủ tướng kiêm Trưởng Ban Chỉ đạo Hướng dẫn sinh đẻ có kế hoạch, sau người tiền nhiệm là Phó Thủ tướng Võ Nguyên Giáp.

Những quyết định mang tính lịch sử

Kinh tế

  • Đổi mới cơ chế kinh tế: Dẫn dắt quá trình chuyển dịch từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường với các chính sách thương mại hóa tư liệu sản xuất, cho phép các doanh nghiệp được xuất nhập khẩu trực tiếp.

  • Tự do hóa lưu thông hàng hóa: Bãi bỏ chế độ thu mua nghĩa vụ, xóa bỏ ngăn sông cấm chợ để thực hiện tự do lưu thông hàng hóa trong cả nước.

  • Phát triển hạ tầng: Quyết định thực hiện công trình đường dây truyền tải điện 500kV Bắc - Nam, dù gặp nhiều ý kiến trái chiều, và sẵn sàng chịu trách nhiệm với quyết định của mình.

  • Đối ngoại
    • Thúc đẩy bình thường hóa quan hệ: Đóng vai trò quan trọng trong việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và là cột mốc lịch sử đưa Việt Nam gia nhập ASEAN.

  • Nâng cao vị thế quốc tế: Gửi những thông điệp mới ra thế giới về Việt Nam khát khao hòa bình và phát triển, góp phần cải thiện vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

  • Chính trị và xã hội
    • Tư duy chính trị sắc bén: Có tư duy chính trị toàn diện, sâu sắc, nhạy bén và có tầm chiến lược, luôn hướng đến mục tiêu làm cho đất nước "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn".

  • Gần dân, trọng dân: Dành cả đời vì dân với tấm lòng yêu nước thương dân sâu sắc, luôn lắng nghe ý kiến và trăn trở về những khó khăn của người dân.

  • Đoàn kết dân tộc: Tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết nối mọi tầng lớp nhân dân để xây dựng đất nước phát triển bền vững.

  • HẾT

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn