CỔ TÍCH THỜI BAO CẤP
Thời bao cấp của đất nước Việt Nam theo tôi có thể chia thành hai giai đoạn:
Giai đoạn 1 từ năm 1954 – 1975, chỉ diễn ra ở miền Bắc Việt Nam;
Giai đoạn 2 từ năm 1976 – 1986, diễn ra trong cả nước.
Những công dân Việt Nam sinh ra và lớn lên trong hai giai đoạn này của thời bao cấp chắc vẫn “còn nhớ như in” hoặc “rùng mình khi nghĩ lại” cảnh ngăn sông cấm chợ, thiếu thốn đủ điều từ “cái kim sợi chỉ”, từ “mảnh áo, manh quần”. Sống giữa hai vùng châu thổ phù nhiêu mà gạo vẫn thiếu, vẫn phải ăn bo bo, mì sợi. Những người dân sống ở miền Bắc ở hai giai đoạn đó thì còn thấm khổ hơn nhiều. “Mặt buồn như mất sổ gạo” hay “ngơ ngẩn như mất tem phiếu” không chỉ là những câu nói đùa mà là thực tế xảy ra hàng ngày ở các đô thị miền Bắc thời đó. Những đứa trẻ phải dậy sớm từ 4 - 5 giờ sáng để ra xếp hàng trước các cửa hàng lương thực, thực phẩm, chờ mua vài chục kg gạo mốc, đầy mọt hoặc những miếng thịt bạc nhạc đã ngả màu ôi cho mỗi gia đình. Những gia đình có điều kiện hơn, có con gà con vịt làm thịt cũng phải giấu diếm hàng xóm vì “phạm tội sướng hơn hàng xóm”. Không dám chặt thịt gà, thịt vịt bằng dao thớt, mà phải dùng kéo cắt từng miếng một để hàng xóm không biết.
Tuy nhiên với tôi và chắc với nhiều người, thời bao cấp ở miền Bắc cũng để lại nhiều câu chuyện “cổ tích” mà đến giờ vẫn đôi khi “ước gì được như thế”. Bố mẹ tôi là công nhân, gia đình tôi được ăn gạo sổ, thực phẩm và vải may quần áo phải mua bằng tem phiếu (mỗi năm mỗi người được mua 3m vải, may quần thì thôi áo). Nhà tôi ở không có khóa cửa và chẳng cần khóa cửa vì ngoài chum gạo luôn vơi thì đâu có tài sản gì mà phải khóa cửa. Thời bao cấp ở miền Bắc, hình như chẳng ai lo béo phì, chẳng phải lo luyện tập hoặc dùng thuốc giảm cân. Thời bao cấp ở miền Bắc, giao thông của mọi người chủ yếu là dùng xe đạp hoặc đi xe khách liên tỉnh. Chẳng ai phải đeo khẩu trang chống bụi bởi không khí luôn “tinh khôi”. Nước sông có thể vục uống được mà chẳng sợ đau bụng, nước mưa là thứ nước tuyệt vời cho pha trà chứ đâu sợ nhiều a xít và bụi mịn như thời nay.
Tôi thích nhất là hệ thống y tế và giáo dục thời bao cấp ở miền Bắc. Khoảng năm 1966 – 1967, anh trai thứ hai của tôi bị mảnh bom Mỹ thả khu vực sân bay Kép, cầu Bến Lường (địa phận Hà Bắc, Lạng Sơn cũ) bắn vào đùi và bị mất một đoạn xương. Sau khi bị thương thì anh tôi được chuyển về bệnh viện Bắc Giang cấp cứu. Bệnh viện Bắc Giang khi đó đang sơ tán về vùng Nhã Nam, Yên Thế, Hà Bắc. Bố mẹ tôi đã đi bộ hơn 30km để lên thăm anh trai tôi, lên thăm một hai hôm rồi về lại Thổ Hà, Việt Yên, Hà Bắc (nơi bố mẹ tôi sống và làm việc). Anh trai tôi là công nhân bậc 4/7, bị tai nạn chiến tranh và được hưởng bảo hiểm y tế 100%. Hồi đấy cán bộ, viên chức và nhân dân miền Bắc đều được hưởng bảo hiểm y tế 100%. Bảo hiểm y tế 100% thời bao cấp ấy khác thời nay nhiều lắm. Anh trai tôi nằm bệnh viện hơn ba năm mà gia đình không cần cử người chăm sóc. Bệnh viện Bắc Giang ngoài việc điều trị vết thương cho anh tôi còn cử hộ lý chăm sóc thường xuyên cho anh tôi cũng như những bệnh nhân khác. Các bữa ăn của bệnh nhân cũng được nhà bếp của bệnh viện chăm lo chu đáo, thay đổi các món ăn hàng ngày. Vào kỳ nghỉ hè, tôi còn lên ở cùng anh tôi ở bệnh viện Bắc Giang vài tuần. Tôi khi ấy cũng 13 -14 tuổi rồi, nhưng chằng giúp được gì cho anh tôi, chỉ ngày ba bữa ăn được nhà bếp Bệnh viện lo cho rồi lượn lờ khắp bệnh viện và khu dân cư gần đó. Tất nhiên các suất ăn của tôi là do anh trai tôi trả tiền, vì anh vẫn được giữ nguyên lương trong những năm tháng nằm trị thương. Có một sự kiện tôi nghe anh tôi kể lại mà tôi nhớ mãi. Một hôm, anh trai tôi di chuyển chiếc chân bị thương thì không may một mảnh xương gãy còn nằm trong vết thương cứa đứt một mạch máu trong đùi. Máu từ vết đứt chảy tràn ra giường bệnh và sàn nhà. Thật may, ngay lúc đó, có một đoàn bác sỹ quân y về thực thập ở Bệnh viện Bắc Giang đi ngang qua phòng bệnh anh tôi nằm. Các bác sỹ quân y nhanh chóng ga rô vết thương và đưa anh tôi lên phòng mổ cấp cứu. Do mất máu nhiều và bệnh viện không còn máu dự trữ, nên sinh mạng anh tôi đứng trước sự sống còn. Bệnh viện liền yêu cầu các bác sỹ, y tá, hộ lý toàn bệnh viện hiến máu cứu anh tôi. Hai nữ y tá có nhóm máu phù hợp đã tự nguyện hiến máu cứu anh tôi.
Nhờ những lít máu quý giá của hai nữ y tá và sự tận tâm cứu chữa của đội ngũ bác sỹ, y tá quân đội và Bệnh viện Bắc Giang mà anh tôi đã được cứu sống. Tất cả chi phí cho cuộc phẫu thuật ấy và cho cả hơn ba năm nằm viện, nhiều cuộc mổ tiếp theo cho anh tôi đều được miễn phí. Gia đình tôi không phải chi dù chỉ một đồng, hồi đó cũng chưa có văn hóa phong bì. Các bác sỹ, y tá, hộ lý luôn làm việc theo y đức và trách nhiệm của mình. Bệnh nhân mặc nhiên được trở thành thượng đế.
Hè năm 1969, anh trai tôi được chuyển ra điều trị ở Bệnh viện Việt Đức, Hà Nội. Anh trai cả của tôi, là bộ đội được về phép thăm nhà trước khi đi B. Anh cả và tôi đi ra Hà Nội để thăm anh hai tôi đang nằm ở Bệnh viện Việt Đức. Cầu Đuống và Cầu Long Biên hồi đấy đều bị máy bay Mỹ ném bom nên chúng tôi chỉ đi xe khách từ Bắc Ninh đến Yên Viên, rồi phải tăng bo, đi cầu phao qua sông Đuống và sông Hồng. Hai anh em vừa đi vừa hỏi đường rồi cũng đến bệnh viện Việt Đức lúc nửa đêm. Lần đầu tiên tôi được ra Hà Nội nên rất ngỡ ngàng. Bệnh viện Việt Đức rất yên tĩnh trong đêm. Những ánh đèn điện sợi đốt vàng óng trong những mái vòm phòng bệnh nhân hắt ra, những bóng người mặc áo blue trắng nhẹ nhàng di chuyển thật khác xa những gì mà tôi đã thấy ở trên đường – bình yên đến lạ lùng. Anh hai tôi nằm trên một chiếc giường bệnh được trải ga trắng tinh, thỉnh thoảng lại có một bác sỹ hay y tá đi ngang qua kiểm tra, không hề có một người nhà bệnh nhân nào trong phòng bệnh. Tôi và anh cả tôi, sau khi thăm anh hai tôi xong liền ra hai chiếc ghế đá đặt ở khuôn viên bệnh viện chợp mắt lấy sức. Sáng hôm sau tôi và anh cả vào thăm anh hai tôi lần nữa, khoảng hơn 10 giờ thì bệnh nhân được ăn bữa trưa. Một đĩa cơm trắng to với sườn xào chua ngọt cho mỗi bệnh nhân mà lần đầu tôi được nhìn thấy. Anh hai tôi ăn vài thìa rồi đẩy đĩa cơm cho tôi, tôi đưa đĩa cơm cho anh cả nhưng anh cả chắc thương tôi nên đưa lại đĩa cơm cho tôi. Tôi ăn đĩa cơm sườn ngon lành và nhớ mãi hương vị của cơm trắng sường non cho đến bây giờ - thật như cổ tích.
Một đồng đội của tôi, một cựu chiến binh cách đây vài tháng được đưa vào bênh viện Việt Xô cấp cứu. Anh ấy được hưởng chế độ bảo hiểm y tế 100%. Tuy nhiên gia đình vẫn phải thuê người chăm sóc hàng ngày, nghe nói mỗi ngày phải chi thêm khoảng 1 triệu đồng. Vậy mà nghe nói anh ấy suýt qua đời vì sự tác trách của bác sỹ, hộ lý trực đêm – thật buồn
Thế hệ học sinh, thi đại học, học đại học và ra trường công tác thời bao cấp bọn tôi cũng trải qua một thời kỳ lạ lùng. Hai năm cấp ba của tôi phải đi trọ học ở Việt Yên. Tôi cũng như nhiều học sinh Hà Nội sơ tán về Việt Yên hồi chiến tranh không có khái niệm trả tiền trọ. Nông dân miền Bắc hồi đó nghèo lắm nhưng không ai nghĩ đến chuyện lấy tiền trọ của học sinh. Sau này, 1972, là sinh viên đi sơ tán cũng vậy, luôn được nhân dân thu xếp cho ở nhờ một cách tự nguyện. Lứa sinh viên thời chúng tôi chỉ cần đỗ vào đại học là gia đình không phải lo nữa. Chúng tôi có học bổng, có tiêu chuẩn gạo và thực phẩm, nhu yếu phẩm đủ cho nhu cầu. Tốt nghiệp ra trường thì được nhà nước phân công công tác, tất nhiên ai đó giỏi đi ngang về tắt thì sẽ được lựa chọn cỗ tốt hơn. Thời nay, cứ mỗi mùa tuyển sinh là tôi thấy rất nhiều chuyện buồn trên mạng. Đỗ đại học mà không dám đi học vì nhà nghèo quá. Tốt nghiệp đại học mà không xin được việc làm không phải vì học dốt mà vì không có mối “quan hệ"./.



