Khác

Cổ tích thời chiến tranh

Năm nào vào ngày hôm nay, ba đứa chúng tôi cũng tụ họp quanh mâm cơm cúng một người đã khuất. Đã hơn 30 năm rồi, chặng đường quá dài để những mái tóc trẻ trung trở nên khô khốc, bệch bạc. Làn da căng hồng đã rạn vỡ bởi trăm nỗi gian truân. Nắm hương cháy đỏ, tở từng khoanh tàn, lòng tôi lâng lâng theo khói trầm lãng đãng như trở về những ngày tháng xa xăm ấy - mùa khô năm 1970 khốc liệt suốt một dải rừng Lào.

05/02/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Binh trạm trưởng Nguyễn Phương chụm năm ngón tay gân guốc như hình con dấu đóng xuống cái vùng rừng đen thẫm trên tấm bản đồ quân sự. Giọng ông trầm tĩnh nhưng không giấu khỏi nỗi lo.

- Sẽ rất ác liệt đấy. Nếu có người, chú sẽ tăng cường thêm cho các cháu một nữ y tá, cũng để cho Thuý có bạn.

Khi thiếu tá binh trạm trưởng giao nhiệm vụ với những lời lẽ thân tình thì nhiệm vụ chắc chắn sẽ vô cùng nặng nề. Tôi đã quen với tính cách đó nơi ông. Và lần này ba người chúng tôi được giao lập trạm cấp cứu dã chiến phục vụ mặt trận Xa-va-na-khẹt với tên gọi C2-33. Trạm đặt không xa điểm cao Tà Ngừm, dưới tán rừng khuộc và săng lẻ, loại cây đặc trưng của rừng Lào. Cánh rừng đại ngàn từ Khăm Muộn qua Xa-va-na-khẹt tới Tà-ven-oọc mùa khô này bỗng bừng dậy bởi những đoàn dân công hoả tuyến từ hậu phương miền Bắc vào phối hợp với các đơn vị dân công Lào âm thầm mở con đường nhánh phía tây Trường Sơn.

Một công trình vĩ đại xẻ dọc rừng núi không giấu kín được bao lâu. Đầu tiên là những đơn vị quân nguỵ Viêng-chăn đóng quân trên căn cứ Tà Ngừm rồi máy bay Mỹ, lính biệt kích Sài Gòn đều nhận ra một con đường lớn, con đường mới đang hình thành trong mạng lưới đường mòn Hồ Chí Minh. Thế là cả vùng rừng phía Tây bấy lâu yên ả trở thành một chảo lửa suốt đêm ngày rừng rực. Trạm cấp cứu của chúng tôi đã trở thành một bệnh viện tiền phương. Ngoài tôi y sĩ, Hùng và Quân tải thương mới học qua lớp sơ cứu còn hai anh bạn người Lào phục vụ ăn uống kiêm phiên dịch. Đúng như lời hứa, binh trạm trưởng cử về tăng cường một nữ y tá tên Lý, cựu binh chiến trường, biết khá sõi tiếng Lào. Lý về trạm buổi trưa, chúng tôi ùa ra đón. Còn Lý lại không ngỡ ngàng. Chủ động bắt tay chúng tôi, miệng cười rất tươi:

- Em là Lý, y tá về trạm nhận nhiệm vụ.

Thấy chúng tôi đứng đực cả ra. Lý làm bộ phụng phịu.

- Các anh các chị có nhận lính mới không mà chả ai mời em vào nhà.
Chúng tôi cười ồ. Tôi đưa Lý về gian hầm sát phòng điều trị. Nhìn một lượt, Lý hỏi:

- Nằm sạp à chị Thuý?

- Ừ “tổ ấm” của hai đứa mình đó.

Lý buông ba lô, nhún thử rồi rút giấy giới thiệu đưa cho tôi:

- Em Lê Minh Lý, tuổi con chuột. Còn chị?

- Năm gà.

- Tý sửu dần mão... kém chị ba năm, nhưng ba mùa nằm võng trên đất Lào rồi nhé. Vừa rồi dự bổ túc xong lớp y tá ở Quảng Bình, được về nhà một tháng. Khổ! Đặt lưng xuống giường là người bập bênh như con thuyền trơ trên bãi đá. Mẹ em thương quá cứ khóc hoài. Vừa tập quen nằm giường thì lại vào đây.
Nói đến đó Lý bật dậy:

- Xong phần thủ tục nhập trạm nhá, giờ có quà miền Bắc cho chị đây.
Chiếc ba lô dốc ngược. Tôi bụm miệng cười cái cử chỉ ngỗ ngược của Lý.

- Thịt hộp, ruốc bông, lương khô “cốp” loại 702 có ca cao nhé, chị đưa vào kho thực phẩm của trạm. Còn chỉ thêu Trung Quốc nhá, gương, lược chị gái em mua tặng... Ảnh nghệ sĩ Đêanôp, Bôm bốp “Trên từng cây số”, tịch thu của con bạn nối khố. Cuốn “Thép đã tôi thế đấy” bố em cho, những thứ này riêng của chị em mình.

Lý đứng hai tay chống hông nhìn đống đồ như vị tư lệnh đang vạch kế hoạch tác chiến trước tấm sa bàn, còn tôi mắt chợt cay cay xúc động. Đã bốn năm trời tôi đâu được biết, được ngắm những đồ dùng phụ nữ xinh xắn dễ thương đến thế. Chợt Lý quay lại đột ngột hỏi:

- Sao, chị Thuý không thích à?

- Có, thích, thích lắm... - Tôi luống cuống trả lời - Nhiều thứ đẹp quá. Em thật chu đáo. Mình ở rừng lâu đến nỗi quên cả những thú vui nho nhỏ rất con gái này. Cám ơn Lý. Nhưng để chúng vào đâu bây giờ?

- Chị lo gì! Chúng mình sẽ đóng một cái tủ nhỏ, thật xinh. Đây, kê ở đây. Đúng rồi, Lý vỗ tay reo lên - còn nữa. Hai bức tranh thiên nhiên của Lê-vi-tan sẽ treo trên “bàn trang điểm”.

Rồi Lý ghé tai tôi thì thầm:

- Em xé trộm trong tập tranh phong cảnh Nga của bố em đấy. Chắc bây giờ cụ đang gầm lên: “Thật thiếu văn hoá. Tốt số thì đuề huề chồng con rồi đấy”. Nó cười rích rích. Dạo còn ở nhà em rất hay trêu cụ. Bố em mắng em bao giờ cũng mở đầu bằng câu: “Thật là thiếu văn hoá...”.

Mắt nó bỗng thoáng chút xa xăm: “Em thích tranh phong cảnh. Nó gợi cho mình cái cảm giác bát ngát, kỳ vĩ và rất có tình của thiên nhiên. Hết chiến tranh, nếu còn tuổi em sẽ học mỹ thuật. Em sẽ vẽ những bức tranh phong cảnh Trường Sơn vào các buổi sương giăng... Những dải núi như người khổng lồ đắp tấm chăn mây trắng xốp bồng bềnh vừa trở dậy sau một giấc ngủ đầy mộng đẹp. Và cả những vết thương lở loét, tím bầm mà bọn Mỹ gây ra trên làn da mịn màng của nó...”.

Tôi ngây người nhìn Lý. Lúc này trông nó khác hẳn. Một tâm hồn giàu có và đáng yêu đến kỳ lạ mà mãi đến sau này tôi vẫn chưa khám phá hết.

- Ừ, chúng mình sẽ trang hoàng cái phòng này thật đẹp. Nhưng bây giờ phải thu dọn đi. Em xuống suối tắm giặt rồi còn ăn cơm.

- Phải đấy! Em muốn tắm quá. Đường tuyến mới đầu mùa mà đã bụi kinh khủng.

Dúi vội vào tay tôi một gói giấy mềm mềm rồi xách túi nhảy chân sáo ra khỏi cửa, tiếng nó lảnh lói:

- “Bụi nhuộm tóc em như người già... la. la. la...”. Hai anh ơi, có quà của hai anh đây. Hôm nay cho ăn tươi một chút nhá.

Tôi giở gói giấy, thoáng chút đỏ mặt cảm động, một chiếc áo ngực con gái mềm mại xinh xắn. Tôi thầm biết ơn Lý. Và từ ngày Lý về, trạm cấp cứu tiền như có một làn gió mát mẻ, một tình yêu thương dịu ngọt giữa những ngày gian nan nhất của mùa khô năm ấy.

“Đại lộ” Tây Trường Sơn mở ra, binh trạm chúng tôi trở thành một “bến cảng” trung chuyển lớn trên vùng cao nguyên chiến lược của hai nước Việt - Lào.

Trạm cấp cứu C2-33 thương bệnh binh nhiều, tôi thì hốc hác đi vì căng thẳng và thiếu ngủ. Ấy thế mà Lý vẫn giữ được cái nết làm dáng, trông nó lúc nào cũng rực rỡ như một bông hoa rừng. Có anh thương binh nặng chỉ mong được nó ngồi bên cạnh là thấy dịu hẳn đau đớn. Nhiều đêm Lý thức đến sáng bịa ra bao nhiêu chuyện kỳ lạ và đẹp đẽ về rừng để kể cho thương binh nghe. Có lẽ cũng chả mấy ai tin những chuyện nó kể nhưng được một cô gái yêu đời, xinh tươi và đầy lòng nhân ái chiều chuộng như vậy, họ thấy những vết thương của mình dịu đi thật.

Một tuần trạm khá rỗi rãi, thương binh được chuyển hết ra tuyến ngoài. Tôi ngủ dậy muộn, không thấy Lý đâu, chỗ nằm lạnh tanh. Hỏi Hùng mới biết Lý sang bãi khách thăm một đơn vị bộ đội Lào. Chờ mãi không thấy Lý về tôi cũng theo sang. Nó ngồi giữa một tốp chiến sĩ. Nhiều anh mặt non choẹt, cặp mắt sáng ngây dại dưới vành mũ lưỡi trai nhìn đôi tay mềm dịu, trắng xanh của Lý khâu vá, đơm khuy áo cho cả một trung đội. Có cậu khuy chưa đứt cũng dứt ra để chị Lý khâu giùm. Tiếng cười nở bung dưới tán rừng như không phải giữa cuộc chiến tranh ác liệt diễn ra mỗi ngày. Lý và cả tốp bộ đội Lào không nhìn thấy tôi. Niềm vui của họ, của Lý khiến tôi rón rén trở lui.

Mãi chiều tối Lý mới về trạm, tay xách một bọc quà toàn gương lược làm bằng xác máy bay, có cả thuốc lá cho Hùng và Quân. Hai tuần sau đó trạm tiếp một ca cấp cứu nặng bên giao liên bạn đưa xang. Khi xem vết thương, cả hai chị em tôi đều ngầm hiểu anh ấy sẽ khó sống qua được đến sáng. Chúng tôi quyết định để anh nằm lại trạm. Lý đem võng tới mắc bên cạnh giường anh. Nửa đêm lúc chợt tỉnh, tôi thấy nó đang quỳ bên cạnh giường, nước mắt ròng ròng nghe anh thương binh nói những lời trăng trối. Tôi vội vàng chạy lại, cảnh tượng thật cảm động khiến tôi chững lại sau lưng nó. Giọng anh chiến sĩ yếu ớt nhưng rõ ràng, tha thiết:

- Quê anh ở Tà-ven-oọc sát với Việt Nam. Em biết không, Tà-ven-oọc tiếng Lào là mặt trời mọc. Hết chiến tranh có dịp nào cầu mong em đến thăm và kể lại cho mẹ anh nghe phút cuối cùng này...

- Anh à, đừng nói nữa. Hãy nghe em nào, anh sẽ sống. Nhất định anh sẽ sống mà.

- Anh biết bệnh tình của mình...chẳng còn mấy thời gian nữa, mà tên em là gì nhỉ? Em nói tiếng Lào dễ thương lắm.

- Em là Lý.

- Cám ơn Lý - anh là Chi-von U-đôm. Em đừng khóc... À anh nhớ ra rồi, Rất nhiều người đã nhắc tên em. Bộ đội Lào cũng quý em như bộ đội Việt Nam. Họ bảo em là cô tiên trong rừng khuộc. Thế là đến phút chót anh được gặp em, được chính em chăm sóc... “một người con gái Việt Nam xinh đẹp và tốt tuyệt vời”. Đấy, họ nói về em như thế...

- Anh...

- Bây giờ anh xin em cho anh được cầm bàn tay em...một chút thôi. Anh chưa bao giờ được cầm tay người con gái nào trong đời. Chưa được nói lời yêu cùng ai. Anh nhìn Lý thật lạ. Ánh mắt đầy dịu dàng khao khát.
Lý ghìm tiếng nấc, đặt bàn tay thon mềm vào lòng tay người chiến sĩ Lào. Một thoáng run lên, Chi-von U-đôm sẽ sàng nắm từng ngón tay trắng ngà của Lý, rồi ấp bàn tay mình lên đó. Một lát sau nó trượt dần xuống.

Lý thổn thức:

- Anh ơi... Em thương anh quá - Lý úp mặt trên bàn tay lạnh dần của anh. Nước mắt lã chã rơi. Rồi Lý ngẩng lên vuốt mắt cho anh, bất ngờ đặt lên má anh một cái hôn thật dịu dàng.

- Suốt mùa khô năm 1970-1971 ác liệt ấy, trạm cấp cứu của chúng tôi trở thành “điểm hẹn” của những đoàn quân ra vào mặt trận Tây Nguyên và Nam Trung Lào. Và chẳng bao lâu, không biết xuất phát từ ai, nó được gọi bằng một cái tên mới: “Trạm cô Lý”. Người nọ truyền cho người kia. Lính cũ kể lại cho lính mới. Trạm cô Lý trở thành một trọng điểm trên đường hành quân vào mặt trận, giống như bao địa danh khác được chiến sĩ đặt tên... Cánh lái xe binh trạm mỗi lần chở hàng vào chiến trường, qua đây đều dừng lại nhấn hai hồi còi tinh nghịch: “Chào... em...” rồi mới đi tiếp.

Biết Lý thích làm dáng, sau mỗi chuyến đi các anh lại gửi cho hai đứa chúng tôi những món quà nho nhỏ mà cánh con gái ưa thích. Lại có cả những chiến sĩ Lào (thuộc tỉnh đội Xa-va-na-khẹt) gửi tặng hộp đựng xà phòng, ca, bát toàn bằng đuya-ra máy bay do các anh gò lấy.

***
Một ngày rất thanh bình. Suốt từ sáng sớm không nghe thấy tiếng máy bay địch hoạt động. Tiếng suối rì rào từ dưới đáy vực chỉ nghe thấy vào lúc đêm khua, hôm nay vọng lên thao thiết giữa ban trưa. Sự tĩnh lặng đầy bất thường của một ngày chiến tranh. Một chùm bom từ khoảng không bí ẩn bỗng chụp xuống con đường tuyến gần lối rẽ về trạm cấp cứu tiền phương. Lý cùng một tổ chiến sĩ đường dây đi cõng gạo vừa về đến đó. Một mảnh gang nhỏ, rất nhỏ đâm vào thái dương...Đóa hoa rừng rũ xuống trong tay đồng đội. Như một làn gió thơm mát, Lý ào đến rồi lại bất ngờ ào đi.

Tôi bảo mọi người để tôi ngồi lại một mình với Lý, ấp khuôn mặt nó vào ngực mình. Tôi thay quần áo cho nó xong, cái tin Lý hy sinh đã bay tới tất cả những đơn vị quanh trạm. Nhìn những cặp mắt trân trân đau đớn của hàng trăm con người, những bộ đội Việt Nam và Pa-thét Lào, tôi thấy rừng núi như chao đảo. Không ai nói nổi một lời, họ nắm chặt bàn tay tưởng đến bật máu. Người em gái, người đồng chí thân thương nhất của họ ở trạm cấp cứu tiền phương đã ngã xuống.

Hùng và Quân trải những tấm tăng và áo mưa đẹp nhất liệm cho Lý, bao nhiêu người đã đặt vào đó những chiếc gương soi, lược, khăn mùi soa, hộp phấn và cả một bó hoa rừng mà khi sống Lý vẫn yêu thích. Chúng tôi lặng lẽ nâng niu đưa Lý lên chỗ cao nhất của rừng khuộc. Nằm đó, Lý nhìn thấy con đường tuyến dưới chân đồi như một tấm vải nâu non căng giữa triền rừng; nghe tiếng suối trầm hùng vọng lại cùng dàn nhạc vi vút không ngừng nghỉ của đại ngàn. Đêm đêm, những chuyến xe đi về phía mặt trận ngang qua nấm mộ Lý vẫn dừng lại một giây cất lên hai tiếng còi da diết “Chào... em”. Lý yên nghỉ trong nỗi thương nhớ không phai mờ của những ai đã từng ở mặt trận cánh tây Trường Sơn mùa khô năm đó.

Mấy tháng sau khi Lý hy sinh, hầu như ngày nào tôi cũng ra viếng mộ nó. Và thật kỳ lạ, không phải chỉ có riêng tôi, nhiều người qua lại trên con đường giao liên này đã đến “thăm” Lý. Những bó hoa rừng mộc mạc phủ kín nấm mồ. Có những anh bộ đội làm thơ, làm nhạc tặng Lý. Càng về sau, cái chết của Lý càng trở nên huyền hoặc, thì xuất hiện bao nhiêu câu chuyện kỳ lạ về một người con gái áo trắng đêm đêm xuất hiện ở khu rừng khuộc, ngay gần Binh trạm 33.

Có lần chính tôi được nghe một anh chiến sĩ trên đường vào Nam kể rằng: “Tất cả các đoàn quân nghỉ lại ở bãi khách binh trạm đêm đêm vẫn thấy một cô tiên áo trắng, trên trán lấp lánh tấm gương soi. Cô đến từng chiếc võng rém lại chăn màn, sửa lại mái tăng che sương cho chiến sĩ... Rồi đến phiến đá đầu bãi, cô ngồi đó, vừa khâu vá những tấm áo rách vừa cất lên tiếng hát du dương. Tiếng hát của cô êm dịu hoà vào bản nhạc bất tận của rừng, xoa cho giấc ngủ chiến sĩ đằm sâu sau một ngày hành quân vất vả...”.

***
Hương đã tàn. Tôi vẫn chưa dứt ra khỏi những kỷ niệm về Lý. Tai tôi lơ mơ nghe như có tiếng người gọi. Tiếng gọi lảnh lói kèm theo giọng cười thật trẻ trung nũng nịu quen thuộc. Hùng và Quân nhìn tôi ngỡ ngàng. Tôi biết mà không dứt ra khỏi mạch nghĩ xa vời. Trước mắt tôi vẫn hiện rõ nụ hôn yêu thương của Lý trên má anh chiến sĩ Lào. Trên con đường tuyến tươi đỏ ven rừng khuộc, những chuyến xe rùng rùng cây lá nguỵ trang vẫn nối nhau đi về phía mặt trận. Đến ngang ngôi mộ Lý nó lại khẽ khàng dừng lại dưới chân dốc binh trạm nhấn hồi còi “Chào... em”!

Gió ùa lên, cả một thảm hoa rừng trên mộ Lý xao động như lời đáp của một thời oanh liệt xa xôi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn