Cố Tổng Bí Thư Lê Duẩn
ống trong những ngày tháng hòa bình, được hít thở bầu không khí tự do và nhìn ngắm đất nước ngày một đổi mới, chúng ta càng thêm biết ơn những giọt mồ hôi, xương máu và trí tuệ của các thế hệ đi trước. Để có được ngày hội thống nhất Bắc - Nam sông núi liền một dải, cách mạng Việt Nam đã trải qua những chặng đường đấu tranh vô cùng cam go, nơi mỗi quyết sách lịch sử đều mang tính quyết định đến vận mệnh dân tộc. Đứng ở trung tâm của những thời khắc bước ngoặt ấy chính là Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn - người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lý luận và chiến lược thiên tài đã dành trọn trọn cuộc đời cho khát vọng độc lập, tự do của Tổ quốc.
ống trong những ngày tháng hòa bình, được hít thở bầu không khí tự do và nhìn ngắm đất nước ngày một đổi mới, chúng ta càng thêm biết ơn những giọt mồ hôi, xương máu và trí tuệ của các thế hệ đi trước. Để có được ngày hội thống nhất Bắc - Nam sông núi liền một dải, cách mạng Việt Nam đã trải qua những chặng đường đấu tranh vô cùng cam go, nơi mỗi quyết sách lịch sử đều mang tính quyết định đến vận mệnh dân tộc. Đứng ở trung tâm của những thời khắc bước ngoặt ấy chính là Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn - người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lý luận và chiến lược thiên tài đã dành trọn trọn cuộc đời cho khát vọng độc lập, tự do của Tổ quốc.
Đồng chí Lê Duẩn (1907 - 1986) tên thật là Lê Văn Nhuận, sinh ngày 7/4/1907 ở làng Bích La, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Xuất thân từ một gia đình lao động, có truyền thống yêu nước, đồng chí sớm giác ngộ cách mạng, hưởng ứng lời kêu gọi của đồng chí Nguyễn Ái Quốc đi theo con đường cách mạng vô sản. Đồng chí Lê Duẩn tham gia phong trào yêu nước từ năm 1926, tham gia và hoạt động trong Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên từ năm 1928 và đến năm 1930 trở thành một trong những đảng viên lớp đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong lịch sử Ðảng ta, đồng chí Lê Duẩn có thời gian giữ trọng trách Tổng Bí thư dài nhất, 26 năm, kể từ năm 1960 đến 1986, đó là chưa kể trước năm 1960 cũng có thời gian đồng chí được BCH T.Ư Ðảng phân công chủ trì công việc của Ban Bí thư. Qua các Văn kiện Ðảng cho thấy, đồng chí Lê Duẩn không chỉ là một nhà hoạt động thực tiễn kiệt xuất, mà còn là một nhà tư tưởng, lý luận tài ba, lỗi lạc, sắc sảo. Ðồng chí Lê Duẩn đã nổi tiếng về tấm gương tự đọc sách báo Marx-Lenin, như Tư bản luận, Tuyên ngôn của Ðảng Cộng sản... và truyền bá cho các chiến sĩ cộng sản ngay trong nhà tù Côn Ðảo, biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng. Trước khi có đường lối đổi mới toàn diện thì đất nước ta đã diễn ra đổi mới từng lĩnh vực. Có được việc đổi mới từng lĩnh vực, một mặt do hoạt động sáng tạo của quần chúng, mặt khác do đã có tư tưởng đổi mới của một bộ phận các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Ðảng ta. Ðồng chí Lê Duẩn là một trong những nhà lãnh đạo rất sớm thể hiện tư tưởng đổi mới, mong muốn đổi mới quan niệm và mô hình chủ nghĩa xã hội, không giáo điều, rập khuôn. Từ thực tiễn quản lý kinh tế, tổ chức sản xuất đến xây dựng hệ thống chính trị, đồng chí luôn đề cao yêu cầu đổi mới tư duy, khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí, từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý, phát huy tính chủ động, sáng tạo của quần chúng nhân dân. Một giá trị nổi bật khác trong tư tưởng của đồng chí Lê Duẩn là xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Những suy nghĩ, tìm tòi ấy đã góp phần chuẩn bị cả về nhận thức và thực tiễn cho công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng. Đất nước thống nhất, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976), lần thứ V (1982) của Đảng và nhiều Hội nghị Trung ương, đồng chí Lê Duẩn đã cùng với Ban Chấp hành Trung ương từng bước xây dựng một hệ thống quan điểm về chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và đã lãnh đạo thực hiện đạt được những thành tựu quan trọng, đó là: Việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu của CNXH; là sự đảm bảo vững chắc về chính trị và an ninh quốc phòng của Tổ quốc; là những thành tựu về văn hóa, đạo đức, cùng quan hệ tốt đẹp giữa người với người do chế độ XHCN đem lại. Không ngừng nâng cao tính tiên phong gương mẫu của đảng viên, sức chiến đấu của Đảng, chăm lo củng cố khối đoàn kết dân tộc và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động bằng cách đem lại lợi ích thiết thân hằng ngày cho họ, thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của họ, thuyết phục và thúc đẩy họ bằng việc làm, bằng hành động thực tế, lời nói đi đôi với việc làm, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân. Là một nhà lãnh đạo kiệt xuất, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam, nhiều vấn đề đã được đồng chí Lê Duẩn làm sáng tỏ về mặt lý luận, được thực tiễn kiểm nghiệm là đúng đắn và sáng tạo. Đồng chí để lại cho chúng ta hàng loạt những tác phẩm lý luận có giá trị, tiêu biểu như: Đề cương cách mạng miền Nam, Thư vào Nam, Cách mạng xã hội chủ nghĩa, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng…
Thiếu Tướng Lê Kiên Trung (Con Trai) kể về cha mình với bao ký ức bao trùm. Cha tôi đi hoạt động cách mạng từ sớm, thời gian ông gần gũi gia đình, con cái gần như không có. Các anh chị tôi, từ lúc đẻ ra cho đến khi trưởng thành, hầu hết đều chỉ được gặp ba khi ông ghé thăm nhà. Cũng là tình thương! Nhiều người nghĩ với vị trí người lãnh đạo đất nước, ba tôi là người lạnh lùng, cứng rắn, nhưng thực ra, ông vô cùng tình cảm với người xung quanh. Không chỉ là tình cảm của người cha dành cho con, tình cảm của người chồng dành cho vợ, mà còn là tình cảm giữa người với người. Ba tôi coi những người giúp việc cho ông như người thân trong nhà. Ông cũng là người mà nếu đi ra đường, gặp một người nghèo, sẽ dễ dàng rơi nước mắt. Nhiều người đi làm cách mạng bắt đầu từ lý tưởng, từ lý trí, nhưng ba tôi đi làm cách mạng bắt đầu từ tình thương. Tôi nghĩ ba tôi là người quyết đoán. Nhưng sự quyết đoán của ông nằm trong chừng mực của một người làm chính trị có cân nhắc trước sau, chứ không phải bất chấp.
Lịch sử nước ta mãi mãi khẳng định công lao to lớn và cống hiến xuất sắc của đồng chí Lê Duẩn. Cuộc đời hoạt động cách mạng kiên cường và phong phú của đồng chí là tấm gương đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, đó là lòng trung thành vô hạn đối với lợi ích tối cao của Tổ quốc và nhân dân, với lý tưởng cộng sản cao cả. Phẩm chất cao quý của đồng chí được thể hiện ở tinh thần cách mạng tiến công không ngừng. Bất chấp mọi thử thách của nhà tù đế quốc, của cuộc sống gian khổ kéo dài ở các chiến khu, cũng như những năm tháng hoạt động trong vùng địch tạm kiểm soát, đồng chí luôn luôn nêu cao nghị lực phi thường, sẵn sàng hy sinh tính mạng của mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.



