Cốc Lầu – Những đường dây giữa sương mù
Sau mấy tháng huấn luyện ở Tiểu đoàn 19, chúng tôi nhận lệnh phân về các đơn vị chốt giữ dọc biên giới Lào Cai. Ngày đọc quyết định, ai nấy vừa háo hức vừa lo lắng. Trung đội 2 được chia làm ba tốp: một tốp lên Bát Xát, một tốp lên Pha Long, còn tốp của tôi – gồm tám người – nhận nhiệm vụ về Đồn biên phòng Cốc Lầu.
Anh Lập giở bản đồ, chỉ ngón tay lên dãy núi ngoằn ngoèo:
– Cốc Lầu đây. Đồn đóng ở vùng giáp với Si Ma Cai. Địa hình ở đó phức tạp, sương mù nhiều, đường đi khó. Nhưng cũng chính vì thế mà nó là “yết hầu” của tuyến biên giới. Các cậu làm thông tin ở đó thì phải chuẩn bị tinh thần vất vả hơn bình thường.
Nghe anh nói, tim tôi đập nhanh hơn. Cốc Lầu – cái tên lần đầu đọc lên còn lạ, vậy mà chỉ vài hôm sau đã trở thành nơi tôi gắn bó cả tuổi đôi mươi.
Con đường lên Cốc Lầu
Xe chở chúng tôi rời doanh trại vào một sáng sương dày. Trên thùng xe, ba lô, súng, máy thông tin, cuộn dây cáp chồng lên nhau. Tôi ngồi cạnh Hường và Khánh. Anh Tuấn ngồi sát cửa, thỉnh thoảng nhô đầu ra nhìn đường.
Đường từ thị xã Lào Cai lên Cốc Lầu quanh co như sợi chỉ vắt qua lưng núi. Xe đi chậm, mỗi khúc cua là một lần chúng tôi nín thở. Một bên là vách đá dựng đứng, rêu phủ trơn; bên kia là vực sâu, mây trắng cuộn như khói. Dưới đáy vực, con suối nhỏ lấp lánh, tiếng nước chảy vọng lên mơ hồ.
– Đẹp thật đấy, nhưng rơi xuống chắc chẳng ai tìm được – Hường thầm thì, tay vẫn bám chặt thành xe.
Anh lái xe – người bản địa – cười:
– Đi vài chuyến là quen. Các chú mới tới cứ nhìn mãi vực là chóng mặt. Nhìn lên trên đi, núi rừng mình hùng vĩ lắm.
Tôi ngẩng lên. Trên cao là những dãy núi chồng lên nhau, màu xanh sẫm, đỉnh bị mây trùm kín. Thi thoảng, xe đi qua một bản nhỏ, mấy mái nhà lợp pơ-mu ẩn mình dưới những tán cây mận, cây đào. Lũ trẻ con dân tộc H’Mông, Nùng chạy ra đường, tò mò nhìn chiếc xe màu rêu, tay vẫy vẫy.
Một lúc lâu, anh Tuấn quay lại:
– Này Cương, mai mốt cậu sẽ phải đi bộ trên mấy sườn núi này để kiểm tra dây thông tin đấy. Giờ cứ tranh thủ ngồi mà ngắm, biết đâu sau này nhìn quen, khỏi lạc.
Tôi cười méo:
– Em chỉ sợ mai mốt đi bộ lại nhớ cái thùng xe này thôi anh ạ.
Khánh thì lại tỏ ra phấn khích:
– Em nghe nói ở Cốc Lầu có nhiều ngô, nhiều mận. Mai mốt đi kiểm tra đường dây tranh thủ hái mận bỏ túi thì biết đâu đỡ nhớ nhà.
Anh Tuấn giả vờ nghiêm:
– Hái mận thì được, nhưng hái xong phải báo cáo, chia đều cho cả tiểu đội. Ai ăn lén là bị kỷ luật!
Tiếng cười rộ lên, tan vào tiếng máy xe ì ì.
Đồn biên phòng trong mây
Trưa, xe dừng lại trước một cổng gỗ đơn sơ. Bên trên cổng là tấm biển kẻ sơn trắng: “Đồn Biên phòng Cốc Lầu”. Phía sau cổng, mấy dãy nhà cấp bốn lợp ngói đỏ nằm lọt thỏm trong thung lũng hẹp, xung quanh là núi dựng thành hình vòng cung.
Đón chúng tôi là một người đàn ông tầm tuổi cha tôi, nước da sạm nắng, quân hàm thiếu tá. Anh bắt tay từng người:
– Tôi là Hoàng – Đồn trưởng. Chào mừng các đồng chí về với Cốc Lầu. Từ giờ, đây là nhà của các đồng chí.
Giọng anh trầm nhưng ấm. Sau lưng anh là một nhóm chiến sĩ, quần áo vương bụi đất, mặt ai cũng rám nắng nhưng ánh mắt sáng.
Anh Hoàng dẫn chúng tôi đi một vòng. Đồn không lớn, chỉ có nhà chỉ huy, nhà ăn, khu ở chiến sĩ, kho lương thực, một sân tập nhỏ và trạm xá. Tất cả đều giản dị. Một cột ăng-ten cao mảnh cắm giữa sân, dây điện thoại từ đó căng ra nối vào phòng trực ban thông tin.
Anh Hoàng chỉ vào cột ăng-ten:
– Đây là “trái tim” của đồn. Từ đây, chúng ta liên lạc với tỉnh, với các đồn bạn, với chốt biên phòng trên điểm cao phía trước. Các cậu thông tin nhớ chăm chút cho nó.
Câu nói như nhấn vào tim tôi. Tôi nhìn cột ăng-ten, tưởng tượng những đường dây vô hình đang nối đồn Cốc Lầu với cả tuyến biên giới.
Chúng tôi được bố trí ở một căn nhà gỗ ba gian. Giường tầng bằng gỗ, chăn màn thô sơ. Khung cửa sổ không có kính, chỉ có tấm vải dày che gió.
– Mấy hôm nay trời còn ấm, đến khi vào đông, các cậu sẽ biết thế nào là gió Cốc Lầu – một anh lính cũ nói, miệng cười tươi. – Tôi là Lù A Páo, người Mông, quê trên bản này luôn. Từ giờ, có chuyện gì về phong tục bà con thì cứ hỏi tôi.
Páo nhỏ người, nhưng chắc nịch. Giọng anh pha tiếng Kinh với âm điệu miền núi nghe rất vui tai. Tôi hỏi:
– Ở đây sương mù nhiều lắm à anh?
– Nhiều. Có hôm mở cửa ra là tưởng đang ở trên… trời. Sương kín đến nỗi cách vài mét không thấy mặt nhau. Lúc ấy đi kiểm tra dây mới khổ.
Anh Hường ngán ngẩm:
– Vậy là nghề thông tin của bọn em… lãi to rồi.
Páo cười:
– Khổ thì khổ, nhưng vui lắm. Đi kiểm tra dây, mấy chú được ngắm núi rừng, gặp bà con bản. Lâu lâu còn được bà con cho bắp ngô, quả mận, củ sắn. Lính đồn khác còn ghen tị ấy chứ.
Ngày đầu vào ca trực
Hôm sau, tôi chính thức được phân vào bộ phận thông tin của đồn, gồm ba người: anh Thọ – trạm trưởng thông tin, khoảng gần bốn mươi, dáng gầy, cặp kính dày; Páo – kiêm luôn trực điện thoại, và tôi – “lính mới”.
Phòng thông tin nằm ngay cạnh nhà chỉ huy. Bên trong có một bàn trực với máy điện thoại quay tay màu đen bóng, một máy vô tuyến 2W, vài cái tai nghe và đống dây, bộ phận dự phòng. Trên tường treo bản đồ khu vực, những đường kẻ từ đồn tỏa ra các chốt.
Anh Thọ kéo ghế cho tôi:
– Ngồi đây, tôi phổ biến sơ sơ trước đã.
Anh chỉ vào bản đồ:
– Từ đồn lên chốt 1 là hơn ba cây số đường chim bay, nhưng đi đường núi thành… gần mười cây. Đường dây điện thoại chạy men theo sườn núi, qua mấy khe suối. Chốt 2 xa hơn, đường dây vượt qua hai lần sạt lở. Chốt 3 là chốt cao nhất – điểm cao 685 – nơi tôi cá với cậu rằng mùa đông tuyết rơi sẽ bám đầy dây.
Anh dừng lại, nhìn tôi:
– Nhiệm vụ chính của chúng ta: đảm bảo liên lạc thông suốt giữa đồn và các chốt, giữa đồn và trên tỉnh. Nghĩa là cậu phải nắm rõ từng đoạn đường dây, từng cọc treo, từng chỗ dễ bị sạt. Khi có tín hiệu nhiễu, tiếng rè bất thường, hoặc im bặt, chúng ta phải khoanh vùng được dây đứt ở đoạn nào.
Anh đưa cho tôi một quyển sổ chép tay, giấy đã ố vàng:
– Đây là “sổ đường dây” của đồn. Trong này có ghi từng cột mốc, từng điểm bắc dây, ai đi kiểm tra lần gần nhất, phát hiện gì. Đọc đi, rồi mai tôi dẫn cậu đi một vòng thực tế.
Tôi lật sổ, thấy chữ viết chi chít: “Cột 15 – cây mận to bên phải đường, dễ bị sét đánh”, “Khe suối Đá Bạc – mùa mưa nước dâng cao, phải nâng dây lên”, “Đoạn từ cột 27 đến 30 – có nguy cơ bị dân chặt cây làm nương, cần tuyên truyền”… Tôi chợt nhận ra, đường dây không chỉ là sợi cáp vô tri, mà giống như một sinh mạng, có những điểm yếu, những chỗ cần chăm sóc.
Buổi chiều, tôi ngồi nghe hướng dẫn sử dụng máy điện thoại quay tay. Mỗi cuộc gọi là một chuỗi động tác: quay số, nhấc ống, nghe tín hiệu, ghi lại giờ gọi, nội dung chính. Anh Thọ dặn:
– Khi có báo cáo tình hình từ chốt, cậu phải ghi thật rõ: giờ, vị trí, sự việc, người báo. Sau này kiểm điểm hoặc rút kinh nghiệm chiến đấu, những dòng ghi ấy quan trọng lắm. Nhớ: tai phải nghe, tay phải viết, đầu phải nhớ.
Tôi gật đầu lia lịa. Đến tối, tôi được vào ca trực đầu tiên. Tiếng chuông điện thoại reo bất ngờ làm tôi giật bắn. Anh Thọ cười:
– Bình tĩnh, nhấc máy lên, chào theo đúng điều lệnh đi.
Tôi làm theo, nghe đầu dây bên kia là giọng khàn khàn:
– Chốt 2 báo cáo, đồng chí Thắng đây. Đêm nay có sương mù dày, nghe tiếng động lạ gần hàng rào phía bắc. Đề nghị đồn cho tăng cường cảnh giới.
Tay tôi run, nhưng vẫn cố ghi nhanh. Anh Thọ ra hiệu bình tĩnh. Ghi xong, tôi lặp lại nội dung đã nghe. Anh Thắng xác nhận:
– Đúng rồi. Hết.
Anh Thọ cầm máy, nói thêm vài câu trao đổi chiến thuật rồi đặt xuống, quay sang tôi:
– Đấy, đơn giản vậy thôi. Nhưng nếu cậu nghe nhầm, hoặc ghi sai vị trí, hậu quả sẽ rất rắc rối. Nên luôn phải tập trung.
Cả đêm ấy, tôi ngồi lắng nghe tiếng “rè rè” đều đều trong ống nghe, thi thoảng là tiếng chuông reo, tiếng cán bộ chốt báo cáo hay hỏi thăm tình hình. Ngoài kia, sương mù như tấm chăn dày trùm lên cả đồn, nhưng trong phòng thông tin, ánh đèn dầu vàng và tiếng máy lại khiến tôi cảm thấy ấm.
Lần đầu đi kiểm tra dây trong mưa
Vài ngày sau, tôi được giao nhiệm vụ đi cùng Páo kiểm tra đường dây lên Chốt 1. Buổi sáng trời đẹp, nắng xiên qua làn sương như mảnh lụa. Tôi háo hức vác ba lô, súng, cuộn dây nhỏ dự phòng, theo sau Páo.
Từ đồn lên chốt, đường đi lúc đầu còn là đường đất, sau chỉ còn lối mòn do chân người và bò giẫm thành. Chúng tôi đi men theo sườn núi, ngang qua những nương ngô, rẫy sắn. Xa xa, mấy mái nhà sàn của bà con H’Mông lấp ló.
Páo vừa đi vừa chỉ:
– Kìa là bản Thào Chư. Bà con thân lắm, lính đồn thường xuống giúp họ gặt lúa, làm chuồng trâu. Đổi lại, bà con cho mình gà, trứng, rau. Mình với bà con như người nhà thôi.
Đến cột dây thứ mười lăm – nơi sổ ghi chú “cây mận dễ bị sét đánh” – Páo dừng lại, ngẩng lên nhìn:
– Mấy hôm rồi không mưa, dây chắc ổn, nhưng vẫn phải kiểm tra.
Anh trèo nhanh như sóc lên thân cây, tôi đứng dưới giữ dây. Anh sờ từng đoạn cáp, từng mối nối, rồi hét xuống:
– Tạm ổn! Cậu ghi vào sổ: ngày… tháng… năm… kiểm tra, không phát hiện gì.
Tôi lôi sổ đường dây ra ghi cẩn thận. Chúng tôi đi tiếp. Gần trưa, trời đột ngột chuyển mây đen. Gió lạnh thổi ào xuống thung lũng. Páo ngẩng lên:
– Chết, mưa rồi. Phải lên chốt nhanh, kẻo suối dâng.
Chúng tôi vội vã tăng tốc. Con đường trở nên trơn trượt. Tôi cố bước nhanh, nhưng ba lô nặng, chân đã mỏi, mồ hôi ướt lưng. Lúc đó, tôi mới hiểu lời anh Lập từng cảnh báo.
Nửa đường, trời đổ mưa thật. Những hạt mưa miền núi to như hạt ngô, đập vào mặt rát buốt. Đất dưới chân nhão ra, trượt từng mảng. Tôi suýt ngã mấy lần, được Páo kéo tay:
– Bám vào đá, đừng bám rễ cây! Rễ cây đứt là lăn luôn.
Tiếng mưa, tiếng suối đổ ầm ầm. Chúng tôi tới một khe suối nhỏ – bình thường chỉ là dòng nước trong veo, đá nhô lên có thể nhảy qua. Nhưng giờ nước dâng cao, chảy xiết, bọt trắng xóa. Dây điện thoại được bắc trên mấy cọc tre cao để khỏi bị nước cuốn.
Páo nhíu mày:
– Nguy quá. Nước lên sát dây rồi. Nếu còn mưa to, dây sẽ bị cuốn mất.
Anh nhìn quanh, rồi quyết định:
– Cậu đứng lại đây giữ dây, để tôi lội qua bên kia nâng dây lên cao hơn.
Tôi hốt hoảng:
– Nhưng nước xiết thế này, lỡ anh trượt thì sao?
Páo cười:
– Tôi sinh ra ở đây, bơi trong suối từ bé. Đừng lo. Còn nếu mà rơi thật thì… cậu nhớ báo về đồn hộ nhé!
Nói rồi anh cuốn gấu quần, ôm lấy cọc tre và bước xuống suối. Nước dâng tới ngang đùi, đẩy người anh loạng choạng. Tôi nín thở, mắt không rời. Anh từng bước bám vào đá, tiến sang phía bên kia, tháo dây ra khỏi cọc, buộc lên cành cây cao hơn.
– Xong rồi! – Anh hét với sang, giọng bị gió cuốn.
Lúc anh quay lại, một con sóng lớn bất ngờ ập đến, xô mạnh vào người. Páo chới với, trượt chân. Tim tôi như ngừng đập.
– Anh Páo!
Bản năng khiến tôi lao về phía mép nước, tay với ra. Rất may, anh kịp bám vào một tảng đá lớn, rồi bật người lên. Nước bắn tung tóe.
Anh leo lên bờ, cười hì hì dù mặt tái:
– Thấy chưa? Tôi bảo mà, sinh ra bên suối bao nhiêu năm, đâu có dễ bị nó nuốt.
Tôi vẫn còn run:
– Nếu anh bị cuốn đi thì em… không biết làm sao nữa.
Páo vỗ vai tôi:
– Thì mới gọi là chiến sĩ thông tin. Đường dây không được để đứt, người đi sửa dây cũng phải biết bơi chứ.
Mưa mỗi lúc một nặng hạt. Chúng tôi tiếp tục leo, người ướt như chuột lột. Đến chốt, mấy anh em trên đó chạy ra đón:
– Ôi, hai ông thông tin tới rồi! Đây là lính mới à?
Tôi được dẫn vào hầm trú ẩn bằng đá. Trong hầm, bếp lửa cháy bập bùng, hơi ấm lan ra. Một anh lính đưa cho tôi cái khăn khô:
– Lau người đi, kẻo cảm lạnh. Ở đây mà ốm thì không có bác sĩ đâu.
Tôi ngồi bên bếp, tay đưa sát lửa, nhìn ra ngoài cửa hầm – nơi mưa trắng xóa, dây điện thoại căng ra giữa cột và hầm như một nét vẽ mảnh. Tôi chợt hiểu, cuộc sống ở chốt biên phòng là như vậy: giữa mưa gió, giữa cái rét cắt da, mọi thứ đều dựa vào nhau – người dựa vào đường dây, đường dây dựa vào những con người không sợ hiểm nguy.
Chiều, mưa tạnh dần. Từ chốt nhìn xuống, đồn Cốc Lầu hiện ra nhỏ bé trong thung lũng, khói bếp bay lên. Sương mù lại tràn đến, che mờ mọi thứ. Páo chỉ tay:
– Kìa, nhà mình đấy. Đẹp không?
Tôi gật:
– Đẹp, nhưng nếu lạc đường chắc chẳng tìm nổi.
Anh cười:
– Yên tâm, lạc thì cứ lần theo dây mà về. Dây điện thoại không chỉ truyền tiếng nói, mà còn như đường chỉ đỏ dẫn lối cho lính biên phòng.
Câu nói ấy khắc sâu trong trí nhớ tôi.
Những người dân của núi rừng
Sau lần kiểm tra dây trong mưa, tôi được giao đi nhiều chuyến hơn. Có hôm đi cùng Páo, có hôm đi với anh Thọ hay một chiến sĩ khác. Nhờ vậy, tôi quen dần với những con đường mòn, những cột dây đánh số, những khe suối, khúc cua.
Đi nhiều, tôi có dịp gặp gỡ bà con các bản.
Một lần, trên đường từ chốt 1 về, trời đã ngả chiều. Chúng tôi dừng lại ở một bản nhỏ để nghỉ chân. Bản có khoảng chục nóc nhà sàn bằng gỗ, mái lợp gỗ pơ-mu xếp chồng lên nhau. Khói bếp bay lên từ khe mái. Bọn trẻ con chân đất, áo vá, chạy chơi dưới sân.
Thấy chúng tôi, một cụ già người Mông chống gậy ra đón, miệng cười móm mém:
– Bộ đội! Bộ đội biên phòng đến chơi!
Páo nói tiếng Mông với cụ một hồi, rồi quay sang dịch:
– Đây là cụ Thào Sùng, già làng bản này. Cụ bảo mời chúng ta vào uống bát nước chè, ăn củ khoai cho ấm bụng.
Chúng tôi bước vào nhà sàn. Trong bếp, một người phụ nữ trẻ – con dâu cụ – đang nướng khoai, nấu nồi canh xương. Cô nhìn chúng tôi, cười hiền:
– Bộ đội uống nước nóng.
Tôi cầm bát gỗ, hít mùi chè núi thơm nồng, bỗng nhớ tới ấm chè xanh của cha. Cậu bé chừng tám tuổi ngồi bên đống củi cứ nhìn chằm chằm vào khẩu súng tôi đeo.
– Chú ơi, súng này có bắn được xa không? – Nó hỏi bằng tiếng Kinh lơ lớ.
Tôi cười:
– Bắn xa lắm. Nhưng chỉ bắn khi có kẻ xấu thôi. Còn với cháu thì… súng này chỉ dùng để bảo vệ, không bắn đâu.
Cậu bé gật gù, mắt long lanh:
– Sau này cháu cũng muốn làm bộ đội như chú.
Câu nói hồn nhiên khiến tôi thấy lòng ấm lại. Tôi chợt hiểu, công việc của chúng tôi không chỉ là canh giữ đường biên, mà còn là để cho những đứa trẻ miền núi được lớn lên mà không nghe tiếng súng.
Trước khi đi, cụ Thào Sùng nắm tay tôi, nói chậm rãi:
– Nhà nước cho bộ đội lên đây, bà con vui lắm. Có bộ đội, bọn “người xấu” không dám vào bản cướp trâu, bắt người nữa. Các chú cố giữ gìn sức khỏe, bản mình cảm ơn nhiều.
Tôi siết tay cụ. Những lời chất phác ấy tạo cho tôi động lực mỗi lần bước chân lên dốc.
Đêm sương dày và tiếng chuông reo liên hồi
Một đêm, khi tôi đang trực trong phòng thông tin, sương mù ngoài kia dày đặc. Đèn ngoài sân chỉ soi được một khoảng nhỏ, còn lại chìm trong trắng xóa. Gió rít qua những khe cửa, mang theo hơi ẩm lạnh.
Đang lim dim, tôi bỗng giật mình vì tiếng chuông điện thoại reo dồn dập. Tôi vội nhấc ống nghe:
– Báo cáo, chiến sĩ thông tin Trần Văn Cương nghe!
Đầu dây bên kia là tiếng thở gấp:
– Chốt 3 báo cáo! Ở hướng tây bắc phát hiện ánh sáng lạ, nghi tín hiệu của đối tượng bên kia biên giới. Đề nghị đồn cho ý kiến chỉ đạo!
Tôi vội ghi chép. Trong tai, tiếng gió rít lẫn với tiếng người báo cáo. Máy thỉnh thoảng rè lên vì nhiễu. Tôi căng tai nghe cho rõ từng chữ. Sau đó, tôi lập tức chuyển máy cho trực ban chỉ huy.
Anh Hoàng – Đồn trưởng – chạy vào, mắt nghiêm:
– Cậu báo cáo tóm tắt lại!
Tôi đọc nhanh nội dung, tay vẫn run nhưng cố giữ giọng đều. Anh Hoàng gật đầu, cầm ống nghe nói chuyện với chốt một hồi, dặn dò tăng cường quan sát, không nổ súng trước.
Đêm đó, chuông điện thoại reo liên tiếp. Chốt 1, chốt 2 cũng báo “nghe tiếng động lạ”, “thấy bóng người di chuyển bên kia đường mòn”. Tôi ghi đầy mấy trang sổ trực. Trong phòng, không khí căng thẳng. Anh Thọ đứng bên cạnh tôi, thỉnh thoảng cúi xuống xem tôi ghi chép có chính xác không.
Khoảng gần sáng, mọi thứ mới lắng xuống. Cuối cùng, số báo cáo tổng hợp cho thấy đó có thể chỉ là hoạt động trinh sát, khiêu khích của đối phương chứ chưa có đột kích lớn. Nhưng với tôi, đó là đêm đầu tiên nếm mùi “báo động đỏ” – dù chỉ qua đường dây điện thoại.
Khi trời hửng, tôi bước ra sân, thấy cả đồn như đang… nổi trên mây. Sương phủ kín, chỉ có đỉnh cột ăng-ten xuyên lên, mờ mờ. Tôi chạm tay vào dây dẫn từ cột vào phòng, thấy nó ẩm lạnh. Nhưng trong lòng, tôi lại thấy tự hào: đêm qua, dù sương dày, dù nhiễu sóng, đường dây vẫn hoạt động, và mình đã góp phần nhỏ giữ cho nó không im tiếng.
Nhận ra ý nghĩa của “sợi dây nhỏ”
Những tháng ngày ở Cốc Lầu cứ thế trôi. Tôi quen dần với sương mù, với những con đường dốc, với bếp lửa trong hầm chốt, với mùi mồ hôi trộn mùi áo bông ẩm. Mỗi lần đi kiểm tra dây, tôi lại hiểu thêm về núi rừng: chỗ nào gió thường thổi mạnh, chỗ nào dễ sạt lở, chỗ nào dân hay đốt nương.
Một hôm, sau chuyến kiểm tra dài, tôi ngồi nghỉ trên mỏm đá cao, nhìn xuống toàn cảnh. Dưới kia, đường dây điện thoại mảnh như sợi chỉ vắt qua những sườn núi, nối đồn với chốt. Đằng xa hơn, ở một điểm nào đó trong sương, là đường biên giới quốc gia.
Khánh ngồi cạnh tôi, thở dài:
– Mày có thấy lạ không? Cả một vùng núi rộng lớn thế này, hòa bình hay chiến tranh đôi khi phụ thuộc vào mấy sợi dây cáp nhỏ xíu.
Tôi gật:
– Ừ. Hồi ở quê, tao cứ nghĩ thông tin chỉ là… nhấc điện thoại lên nói. Giờ mới biết phía sau là bao nhiêu công sức.
Páo, đang ngồi mài con dao găm bên cạnh, ngẩng lên:
– Sợi dây nhỏ mà quan trọng lắm. Như bà con bản tao, đi rừng thường buộc dây vào lưng nhau. Một người ngã, cả dây giật, người khác biết mà cứu. Bộ đội mình cũng thế thôi.
Tôi nhìn sợi dây điện thoại kéo căng, nghĩ đến lá thư cha dặn “thương đồng đội, thương đồng bào vùng cao”. Bỗng dưng, tôi cảm thấy mình không chỉ đang làm “anh lính thông tin”, mà đang giữ một phần mạch máu của cả tuyến biên giới.
Tối hôm ấy, trong thư gửi về nhà, tôi viết cho cha mẹ:
“Ở đây, con được giao đi kiểm tra đường dây lên các chốt biên phòng. Công việc vất vả, leo dốc nhiều, nhưng con thấy mình trưởng thành từng ngày. Con hiểu hơn vì sao bố luôn nhắc phải giữ lời hứa với đồng đội. Mỗi lần nối xong sợi dây bị đứt, nghe tiếng chuông điện thoại reo trở lại, con thấy nhẹ nhõm như vừa cứu được một người.”
Tôi không kể chi tiết những hiểm nguy – những lần trượt chân sát mép vực, những đêm báo động, những tiếng súng lẻ tẻ bên kia biên – vì không muốn mẹ lo. Nhưng trong lòng, tôi biết: những ngày ở Cốc Lầu sẽ là những năm tháng không thể nào quên.
Và tôi cũng không thể ngờ, chỉ ít lâu sau, những đường dây ấy sẽ phải chịu đựng những trận pháo kích dữ dội, còn chúng tôi thì bước vào những ngày chiến tranh khốc liệt hơn – những ngày mà mỗi cuộc gọi, mỗi tiếng “alo” có thể là sinh tử của cả một chốt tiền tiêu…



