Coi như chết rồi
Giống như bao nhiêu đứa trẻ khác trong thời chiến tranh loạn lạc, tuổi thơ của nhà tình báo Tư Cang cũng trải qua nhiều nỗi đắng cay, cực nhọc. Sinh năm 1928, trong một gia đình nông dân nghèo ở một ngôi làng nhỏ của xã Long Phước, thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Với biệt tài bắn súng hai tay như một và nổi tiếng là người tài hoa, mưu lược, gan dạ, dũng cảm, Đại tá, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Văn Tàu, tức Tư Cang, đã lãnh đạo thành công mạng lưới tình báo H.63 có nhiều điệp viên huyền thoại như Phạm Xuân Ẩn, Tám Thảo… làm nên những chiến công lừng lẫy, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam vào năm 1975Là người đứng đầu Cụm H.63, Tư Cang có nhiệm vụ phụ trách đội vũ trang gồm 20 người ở khu căn cứ Bến Đình (xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, thành phố Sài Gòn). Anh chỉ huy đơn vị chống càn, dạy bộ đội về chiến thuật, kĩ thuật quân sự, chỉ huy các giao liên ở trong ấp chiến lược đi về Sài Gòn và nhận thông tin của cơ sở trong nội thành gửi ra.Năm 1965, Mỹ đổ quân ào ạt vào miền Nam, nhiệm vụ của cụm trưởng tình báo Tư Cang lúc này là phải sâu sát hơn với các điệp viên trong khu vực nội thành Sài Gòn. Do vậy, đến năm 1966, Tư Cang bí mật thâm nhập vào nội đô Sài Gòn để trực tiếp chỉ huy mạng lưới tình báo của mình.Để có thể tồn tại được lâu dài trong lòng địch mà không bị lộ, Tư Cang đã phải làm rất nhiều việc, đóng rất nhiều vai. Nói về thời kì này, Đại tá Tư Cang đã kể lại một câu chuyện đầy thú vị. Đó là, không giống như các nhà tình báo nước ngoài thường cất giữ bên mình một viên đạn cuối cùng để phòng khi sa vào tay giặc, bản thân ông lúc hoạt động ở nội thành lại không mang bất cứ thứ vũ khí gì. Nhiều lúc nghĩ cũng thấy lo, nhưng vì yêu cầu bí mật nên ông luôn giữ đúng nguyên tắc và luôn trong tư thế sẵn sàng chấp nhận hi sinh nếu xảy ra bất trắc để giữ bí mật cho đồng đội, và giữ cho mạng lưới điệp viên được tiếp tục hoạt động an toàn.Sau trận đánh Tết Mậu Thân năm 1968, ông tham gia khóa Bổ túc Chính ủy. Sang năm 1969 chuyển về làm Phó Chính uỷ Phòng Tình báo - Bộ Tham mưu Miền. Tới năm 1973, ông được cử đi học lớp chính trị cao cấp của quân đội, rồi sang làm Chính uỷ Lữ đoàn quân biệt động 316 tham gia chiến dịch giải phóng thành phố Sài Gòn. Sau đó tiếp tục chỉ huy đơn vị này tham gia mặt trận biên giới Tây Nam năm 1978 và bị thương (thương binh hạng 2/4). Sau cuộc chiến này, năm 1980 ông về làm hiệu trưởng Trường Văn hóa Quân khu 7 ở Vũng Tàu được 1 năm rồi nghỉ hưu.Dưới sự chỉ huy của ông Tư Cang, Cụm tình báo H.63 đã trở thành lưới tình báo hiệu quả nhất trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Vì vậy, ngay từ năm 1971, tức trước khi miền Nam được giải phóng, Cụm tình báo H.63 đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.


