Côn Đảo Máu, nước mắt và chuỗi ngọc giữa biển Đông
Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn/ Vùng vẫy làm cho lở núi non/ Vác búa đánh tan dăm bảy đống/ Ra tay đập vỡ mấy trăm hòn... Đó là đoạn thơ của Cụ Phan Chu Trinh nói về sự hoang sơ nhưng rất hùng vĩ của một vùng đất giữa biển khơi của Tổ quốc. Nhưng đầu năm 1862, thực dân Pháp đã biến vùng đất tươi đẹp này thành nhà tù để giam cầm những chiến sĩ yêu nước...
Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn/ Vùng vẫy làm cho lở núi non/ Vác búa đánh tan dăm bảy đống/ Ra tay đập vỡ mấy trăm hòn... Đó là đoạn thơ của Cụ Phan Chu Trinh nói về sự hoang sơ nhưng rất hùng vĩ của một vùng đất giữa biển khơi của Tổ quốc. Nhưng đầu năm 1862, thực dân Pháp đã biến vùng đất tươi đẹp này thành nhà tù để giam cầm những chiến sĩ yêu nước.
|
Trại Phú Sơn ở Côn Đảo |
Với diện tích rộng hơn 76km2, có 16 hòn đảo, Côn Lôn-Côn Đảo đã trở thành nhà tù lớn nhất Đông Dương. Lớp tù yêu nước đầu tiên bị đày ra đảo có các Cụ Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế và còn nhiều sĩ phu yêu nước, chiến sĩ cách mạng, nhiều người đã ngã xuống trên mảnh đất này.
Từ sân bay Vũng Tàu, chiếc trực thăng mang số hiệu VN 8404 nâng dần độ cao hướng ra phía biển Đông rồi xuôi về phía Nam cửa biển. Tiếng động cơ nổ giòn, nhưng không át nổi tiếng cười nói của đoàn tù yêu nước bị giam tại Hỏa Lò-Hà Nội năm xưa, nay được Thành ủy Hà Nội đưa đi thăm Côn Đảo. Trong đoàn, có hơn chục người mang án tử hình của kẻ thù. Còn lại đều mang án tù từ 20 năm trở lên. Trưởng đoàn là Lê Đình Cầu, bí thư đầu tiên Chi bộ nhà tù Hỏa Lò (1946-1954). Hai Phó đoàn là Cảnh Du-cán bộ quân sự và Hùng Hậu-nguyên là quận đội trưởng một quận nội thành Hà Nội. Cảnh Du, người cán bộ chính trị năm xưa ở trong tù thường nói chuyện với anh em về chiến thắng Nà Ngần, Phay Khắt, Cao-Bắc-Lạng và trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi. Còn Hùng Hậu, nguời đã từng lĩnh án tử hình, chỉ huy cuộc vượt ngục khám tử hình Hỏa Lò cuối năm 1951. Còn lại là những chiến sĩ quân báo, công an biệt động… hoạt động ngay trong lòng địch, mặt đối mặt với quân thù, lập bao chiến công vang dội. Họ đã trải qua bao tháng ngày cơ cực, nhưng kiên cường bất khuất trong các nhà giam của địa ngục trần gian Côn Đảo.
Nhìn kim đồng hồ đã được hơn một giờ bay. Liên An đang hát: “Kìa xa xa nơi Côn Đảo, sóng nước muôn trùng…”, bỗng có tiếng reo:
- Có lẽ sắp ra tới đảo rồi!
Qua tấm kính chắn gió của trực thăng, Hùng Hậu xoay xoay chiếc ống nhòm rồi nói:
- Đến nơi rồi! Đến thật rồi!
Từ xa, 16 hòn đảo lớn nhỏ của Pu-lô Công-đo (Poulo Condore- “Chuỗi ngọc viễn đông”) lần lượt hiện ra. Trước mắt là dãy lò vôi, xa hơn là núi Chúa. Rồi hòn Bảy Cạnh, hòn Cau, hòn Tài, hòn Bông Lan và cả Mũi Đầm, nơi người chiến sĩ cách mạng Phan Du đã dùng khăn đỏ làm cờ lệnh cho cuộc vượt đảo cuối năm 1952.
Trực thăng hạ xuống sân bay Cỏ Ống. Trước cửa sân bay, một xe Hải Âu đã chờ sẵn và đưa đoàn từ Cỏ Ống về trung tâm của đảo. Trên con đường dài gần 14 cây số, ngoằn nghèo theo triền núi, có đoạn nhô ra ven biển, chiếc Hải Âu từ từ lăn bánh. Đến gần nghĩa trang Hàng Dương, xe đi chậm lại. Phía ngoài nghĩa trang, khi xưa còn là những đống cát, bây giờ đã mọc lên những tòa nhà mới, có cả trường phổ thông cơ sở của đảo mang tên Võ Thị Sáu-tên người con gái vùng đất đỏ Bà Rịa-người chiến sĩ anh hùng Công an nhân dân bị giặc Pháp hành quyết hồi năm 1952.
Qua Lao 2 rồi Lao 1, chiếc Hải Âu vòng ra mé biển và dừng lại ở cầu tàu 914. Nơi đây đối với mọi người tù đều có những kỷ niệm sâu sắc không thể nào quên. Với đoạn cầu cảng cao hơn 2 mét và dài không quá 200 mét, ngày xưa bọn thực dân Pháp bắt tù lao động khổ sai xây dựng và đã giết hại dần mòn tới 914 người vì đòn roi và vì phải làm việc quá sức. Khi bị đày ra đảo, anh em vừa bước chân lên cầu tàu đã bị những trận mưa roi vào đầu, vào mặt, máu me lênh láng chỉ vì can tội “không chịu cúi đầu”. Cũng tại nơi đây, người chiến sĩ lão thành Tôn Đức Thắng đã trồng một gốc đa. Nay cây đã thành cổ thụ, rễ đã bám sâu vào lòng đất và tỏa bóng mát đón gió biển Đông.
Hôm sau, mọi người đi thăm lại các trại giam cũ. Thoạt đầu là Lao 1 thời chống Pháp (1946-1954). Lao 1 mang tên Võ Nguyên Giáp (tất cả các liên khu, khu đều do Liên đoàn tù nhân kháng chiến Côn Đảo đặt tên). Trong lao có 10 khám tù khổ sai, mà hằng ngày người tù phải đi làm những việc nặng nhọc như: lên núi đốn củi, xuống biển mò san hô, khuân vác, dọn tàu, xe đá, đánh vôi vữa làm hồ… Cuối lao là một dãy xà lim hầm tối-nơi bọn cai ngục đã hành hạ người tù hết sức dã man, cũng là nơi mà năm xưa Bác Tôn Đức Thắng đã bị bọn thống trị cầm cố nhiều năm. Ấy thế mà đến thời Mỹ-ngụy, chúng đã gắn cho Lao 1 cái gọi là: “Trung tâm cải huấn, trại Phú Hải”.
Trong Lao 2 (Liên khu Nguyễn Bình có 3 khám biệt lập, đến thời Mỹ, bọn ngụy quyền gọi là trại Phú Sơn). Địa ngục này có 14 xà lim hầm tối và 12 khám giam tù biệt lập. Các cán bộ tiền bối của Đảng như: Nguyễn Văn Cừ, Lê Hồng Phong, Lê Duẩn, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng… đã từng bị cầm cố tại trại giam này.
Năm 1952-1953, kẻ thù dồn các tù nhân của Liên đoàn tù nhân kháng chiến ở các khu, các sở về tập trung tại Lao 2. Người đông, khám hẹp, anh em phải sống trần truồng, ăn cơm hẩm với cá khô mục. Thiếu ánh sáng, thiếu không khí và bệnh tật hành hạ, một số đã chết dần chết mòn. Thiếu rau ăn, hằng ngày anh em đã phải nhổ cỏ non và chia nhau từng quả bàng xanh ăn. Trong số này có nhiều anh em ở Hà Nội đã bị cầm cố tại đây như: Lê Đình Cầu, Nguyễn Phạm Toán, Đặng Văn Chuyết, Minh Kính, Phát Gù, Minh Tâm, Đặng Đình Kỳ, Nguyễn Hữu Bính…
Côn Đảo có khu chuồng cọp-địa ngục của địa ngục trần gian. Nếu như thời chống Pháp, nơi đây chỉ có 120 xà lim thì sau này, bọn Mỹ-ngụy đã xây dựng thêm 384 gian chuồng cọp trên mảnh đất rộng 25.768m2. Chúng dùng khu chuồng cọp để giam những người mang án tử hình và những cán bộ thề không ly khai Đảng và chúng gọi là khu tử tù.
Đoàn đi thăm nghĩa trang Hàng Dương và đường Ma Thiên Lãnh. Qua thời kỳ chống Mỹ ở Hàng Dương lại có hàng mấy nghìn ngôi mộ. Từ sau ngày miền Nam được giải phóng-năm 1975, nhiều mộ đã được tôn tạo, xây cất và trước cửa nghĩa trang đã có tượng đài cao 9 mét, nặng 25 tấn bằng xi măng cốt thép. Đó là Tượng đài chiến sĩ vô danh trao lại chiếc áo tù của mình cho đồng đội trước khi vĩnh biệt cõi đời.
|
Nghĩa trang Hàng Dương |
Mọi người thắp hương trước mộ đồng chí Lê Hồng Phong và tưởng niệm trước mộ các vị tiền bối. Anh em ngắt những bông hoa dừa mọc trên đồng cát để viếng mộ Võ Thị Sáu.
Ma Thiên Lãnh, cái tên nghe rùng rợn làm sao! Đó là con đường có độ dốc khá cao. Tính từ chân núi lên tới đỉnh, đường dốc dài gần 300 mét, đỉnh núi là nơi cai ngục và bọn lính ma tà có thể từ đây quan sát toàn bộ phía biển bên kia dãy núi, chủ yếu là để rình bắt những người tù vượt biển trong những mùa gió chướng.
Có con đường này, hàng trăm tù nhân đã bỏ mạng. Từ dãy núi Vườn Cam ra Đá Trắng, Mũi Đầm, đến khu rừng Bảy Cạnh, Hòn Cau và vùng biển này đã có bao nhiêu vụ đóng bè, ghép thuyền vượt biển- có những người đã hy sinh giữa biển khơi, một số về được đất liền, tiếp tục cuộc kháng chiến. Cũng có vụ vượt biển không thành công, bị địch bắt lại. Đó là trường hợp của chiến sĩ công an Nguyễn Văn Hoạch. Ông cũng có mặt trong đoàn.
Với vị trí thuận lợi về giao thông, cùng với tiềm năng rất lớn về du lịch sinh thái, du lịch biển và du lịch tham quan di tích lịch sử cách mạng, Côn Đảo hôm nay đang thay da, đổi thịt hằng ngày. Có được điều đó là nhờ việc triển khai Đề án phát triển kinh tế-xã hội huyện Côn Đảo đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Theo đó, hòn đảo của một thời bi thương và oanh liệt này sẽ được đầu tư để trở thành khu kinh tế du lịch-dịch vụ chất lượng cao, gắn với bảo tồn và tôn tạo di tích cách mạng đặc biệt của Việt Nam, kết hợp với việc phát triển nâng cao giá trị Vườn quốc gia Côn Đảo với giữ vững quốc phòng, an ninh.
Như vậy, trong một tương lai không xa, “chuỗi ngọc” Côn Đảo sẽ tỏa sáng giữa biển khơi. Dĩ nhiên để có được điều đó là thấm đượm máu, nước mắt của bao thế hệ cha anh đã đấu tranh kiên cường, bất khuất trên hòn đảo lịch sử này để giành độc lập, tự do cho đất nước.





