Cựu chiến binh

CON ĐÒ QUA VÙNG LỬA ĐẠN

Lào Cai22/05/2026sưu tầm (Tuổi trẻ xã Bảo Thắng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi là Lê Thị Cúc, sinh năm 1944, quê ở miền Tây Nam Bộ. Nhà tôi sống bằng nghề chèo đò trên một nhánh sông nhỏ. Từ bé, tôi đã biết cầm chèo, biết nhìn con nước lớn ròng, biết nghe tiếng gió mà đoán mưa. Tôi yêu con sông quê mình như yêu máu thịt. Nhưng trong những năm chiến tranh, con sông ấy không chỉ chở cá tôm, lúa gạo mà còn chở cán bộ, thương binh, vũ khí và biết bao bí mật của cách mạng.

Tôi tham gia giao liên đường sông từ khi còn rất trẻ. Ban ngày, tôi là cô lái đò hiền lành đưa dân qua chợ. Ban đêm, tôi trở thành người dẫn đường trên mặt nước. Chiếc xuồng ba lá của tôi nhỏ, cũ, bên ngoài chất vài bó rau, mấy cái rổ, nhưng dưới đáy có khi giấu tài liệu, thuốc men hoặc súng tháo rời được bọc kỹ trong lá.

Tôi có một người em trai tên Lê Văn Bé, sinh năm 1952. Bé mới mười sáu tuổi đã đòi theo tôi làm giao liên. Tôi không cho, vì sợ em còn nhỏ. Nhưng nó lì lắm, cứ nói: “Chị Cúc chèo được thì em cũng chèo được.” Cuối cùng, tôi dạy nó cách giữ thăng bằng trên xuồng, cách nghe tiếng máy tàu địch, cách giấu giấy tờ dưới vạt áo mà không để lộ.

Một đêm mùa nước nổi, tôi nhận nhiệm vụ đưa một cán bộ bị thương qua sông sang căn cứ bên kia. Người cán bộ tên chú Sáu Minh, bị thương ở bụng, phải nằm dưới lớp lá dừa trong xuồng. Tôi và Bé chèo hai đầu. Trời tối đen, nước mênh mông, lục bình trôi đầy mặt sông. Xa xa, đồn địch có đèn quét qua quét lại như mắt thú.

Đi được nửa sông thì chúng tôi nghe tiếng máy tàu tuần tra. Tôi ra hiệu cho Bé im lặng, rồi lái xuồng ép sát vào đám lục bình. Tàu địch đi chậm, đèn pha quét ngang mặt nước. Tim tôi như ngừng đập. Dưới lớp lá, chú Sáu rên khẽ vì đau. Tôi vội cất giọng hát ru, giả như một cô gái chèo đò đi thăm người thân. Tiếng hát run nhưng vẫn đều.

Tàu địch dừng lại. Một tên lính soi đèn vào xuồng, hỏi chúng tôi đi đâu. Tôi đáp mình chở rau qua chợ sớm. Nó nghi ngờ, bắt tôi kéo xuồng lại gần. Tôi biết nếu chúng lục xuồng, chú Sáu chắc chắn bị phát hiện. Đúng lúc ấy, Bé bất ngờ ôm bụng kêu đau, giả vờ ngã nhào xuống nước. Bọn lính cười ầm lên, chĩa đèn theo Bé. Tôi hiểu ý em, lập tức chèo xuồng lách khỏi vùng sáng.

Bé bơi rất giỏi. Nó lặn xuống, bám theo lục bình, dẫn sự chú ý của bọn lính về phía khác. Tàu địch quay theo tiếng động. Tôi cắn răng chèo thật nhanh, đưa xuồng vào con rạch nhỏ. Chú Sáu được chuyển tới căn cứ an toàn. Nhưng Bé không trở về trong đêm ấy.

Sáng hôm sau, bà con tìm thấy em tôi ở mé sông, người bị thương nặng. Nó còn thở khi tôi chạy tới. Tôi ôm em vào lòng, gọi mãi: “Bé ơi, chị đây!” Nó mở mắt, môi tím tái nhưng vẫn cười: “Chú Sáu qua được chưa chị?” Tôi gật đầu, nước mắt rơi xuống mặt em. Nó nói khẽ: “Vậy là được rồi.” Rồi em đi, nhẹ như con nước ròng.

Tôi chôn em bên bờ sông, nơi hai chị em từng tập chèo xuồng. Sau ngày ấy, mỗi chuyến đò của tôi đều có bóng Bé đi cùng. Có đêm tôi chèo một mình giữa sông, nghe tiếng nước vỗ mạn xuồng mà tưởng như tiếng em nhắc: “Chị Cúc, coi chừng dòng xoáy.”

Chiến tranh qua đi, con sông quê tôi trở lại yên bình. Trẻ con lại tắm sông, ghe xuồng lại chở trái cây ra chợ. Nhưng mỗi mùa nước nổi, khi lục bình trôi tím mặt sông, tôi lại nhớ em. Nó hy sinh khi mới mười sáu tuổi, chưa kịp có một mối tình, chưa kịp rời khỏi làng để nhìn thấy những nơi xa.

Người ta thường nhắc đến những trận đánh lớn, những chiến công vang dội. Còn tôi, tôi nhớ một chiếc xuồng nhỏ trong đêm, một tiếng hát run rẩy, một cậu bé giả vờ ngã xuống nước để cứu người. Với tôi, đó cũng là hoa lửa. Hoa lửa không chỉ cháy trên chiến trường, mà còn cháy trong lòng những con người bình dị, biết lấy thân mình che chở cho niềm tin đi qua vùng lửa đạn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn