Bài viết

CON ĐƯỜNG CỦA LƯƠNG THỰC VÀ MẠNG SỐNG (1)

Đà Nẵng10/06/2026Nguyễn Thế Kiệt (Đoàn Trường THPT Thái Phiên)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trên mảnh đất yên bình xã Quế Sơn (TP.Đà Nẵng) ngày nay, câu chuyện

tình yêu vượt qua bom đạn của vợ chồng cựu chiến binh Trần Đình Tư

(100 tuổi) và bà Võ Thị Dũng (91 tuổi) không chỉ là một kỷ niệm cá nhân,

mà còn là khúc tráng ca về sự kiên cường, lòng quả cảm, khát vọng hòa

bình cháy bỏng của cả một thế hệ đã làm nên chiến thắng lịch sử Điện

Biên Phủ.

CHÀNG TRAI GÁNH GẠO VÀO ĐIỆN BIÊN PHỦ

Bước sang tuổi bách niên, giọng kể của ông Trần Đình Tư (ở xã Quế Long,

H.Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam cũ, nay là xã Quế Sơn, TP.Đà Nẵng) vẫn vẹn

nguyên sự chất phác của người lính. Ánh mắt ông lấp lánh niềm tự hào khi

nhắc về những ngày tháng "tất cả cho tiền tuyến".

Tham gia thiếu sinh quân từ năm 16 tuổi, bước ngoặt lớn nhất trong đời ông

Tư gắn liền với con đường tiếp vận huyền thoại sang Lào từ năm 1946. Khi

chiến trường Điện Biên Phủ ngày càng nóng lên, ông Tư cùng đồng đội thuộc

Đại đội 11, Tiểu đoàn 12 đảm nhận nhiệm vụ vô cùng quan trọng: vận chuyển

lương thực từ Quảng Đà đưa sang tập kết tại Lào, rồi chuyển tiếp về Điện

Biên Phủ. Đó là hành trình gian khổ, vượt qua hàng ngàn cây số đường rừng

núi hiểm trở.

Ông Trần Đình Tư được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhất

"Con đường vận chuyển lương thực sang Lào những ngày đầu gặp muôn vàn

khó khăn. Không phải là những đoàn xe cơ giới rầm rộ, mà là những nhóm

người gánh gạo, mỗi nhóm chỉ từ 10 - 15 người, phải đi theo lộ trình và khung

giờ nghiêm ngặt để tránh sự dò xét của địch. Tới mỗi trạm dừng chân, mọi

người phải báo cáo bằng tín hiệu để kiểm soát số lượng, đề phòng địch trà

trộn", ông Tư nhớ lại.

Con đường Trường Sơn thuở ấy không chỉ có bom đạn, mà còn đầy những

thử thách của thiên nhiên khắc nghiệt. Đã có những lúc, vì tình hình bom đạn

khốc liệt, gạo chuyển đến nơi tiếp nhận chỉ còn vài nắm. Thế nhưng, với tinh

thần "kiến tha lâu cũng đầy tổ", những đoàn người vẫn nối nhau không nghỉ,

đưa từng hạt gạo, hạt muối vượt núi rừng, tiếp ứng cho các mặt trận từ Trung

Lào, Thượng Lào.

Advertisements

X

Vợ chồng ông Trần Đình Tư - bà Võ Thị Dũng

Giai đoạn 1953 - 1954 là đỉnh điểm của chiến dịch. Ông Tư hoạt động tại

hành lang đông và tây thuộc Trung Lào, Thượng Lào. Ở đó, ông chứng kiến

và cảm nhận được sự ác liệt của chiến trường. "Chiến trận càng cam go thì

những bước chân tiếp phẩm càng thêm hối hả. Ranh giới sống - chết chỉ

trong gang tấc. Người lính tiếp vận không thể chọn tránh bom đạn, mà phải

mang trong mình bản lĩnh gan dạ để hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng: đưa

lương thực từ hậu phương đến tiền tuyến", ông Tư quả quyết.

Những chuyến đi đó của ông Tư và đồng đội không chỉ tiếp sức cho quân tình

nguyện VN mà còn là sự phối hợp chặt chẽ, tạo điều kiện cho quân dân nước

bạn Lào giải phóng quê hương. Quan trọng hơn, chính những nguồn tiếp vận

này đã góp phần tạo nên tiền đề vững chắc, chia lửa với mặt trận Điện Biên

Phủ lịch sử.

BẾP HOÀNG CẦM VÀ LÒNG TIN VÔ ĐIỀU KIỆN

Trong khi ông Trần Đình Tư miệt mài gánh gạo trên những nẻo đường

Trường Sơn, ở Điện Biên Phủ, bà Võ Thị Dũng (quê Anh Sơn, Nghệ An) cùng

nhiều cô gái trẻ khác hưởng ứng lời kêu gọi "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để

chiến thắng". Bà lên đường ra mặt trận với nhiệm vụ vá đường, vá hố bom,

nấu ăn cho bộ đội.

Bà Dũng cùng đồng đội đã tạo nên một kỳ tích thầm lặng dưới những căn

hầm kiên cố. Cứ 7 ngày một lần, tiếp phẩm từ hậu phương lại được chất đầy

vào hầm. Ở đó, họ nhóm lửa, nấu cơm trên bếp Hoàng Cầm huyền thoại.

"Nhờ có bếp Hoàng Cầm, cơm nước phục vụ bộ đội ngay tại chiến hào,

không cần phải nắm cơm từ tuyến sau đưa lên", bà Dũng kể.

Suốt 56 ngày đêm "khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt", cuộc sống dưới

những căn hầm chật chội kề cận ranh giới sinh tử đã rèn giũa họ thành những

người lính có tinh thần thép. Tiếng máy bay địch xé trời, tiếng bom rơi trên

đầu chẳng còn là điều bận tâm. Tất cả tâm trí, tình cảm của những người trẻ

ấy đều hướng về mục tiêu chiến thắng ở Điện Biên. "Tình yêu lứa đôi là điều

khó tránh khỏi ở tuổi còn xanh, nhưng trong "chảo lửa" ấy tất cả chúng tôi đã

dành trọn vẹn tình yêu cho Tổ quốc", bà Dũng nói.

Những tấm huy chương, huy hiệu được ông Trần Đình Tư giữ gìn cẩn thận

Chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội mở ra trang sử mới của dân tộc, cũng là

lúc ông Tư và bà Dũng có cơ hội nên duyên. Ngay sau chiến dịch, cả hai

cùng được điều động về Hà Nội, rồi bố trí vào Sư đoàn 350, trở lại Sơn La -

Điện Biên tiếp tục hoạt động. Ông Tư làm quân nhu, bà Dũng làm công tác

bếp núc cho bộ đội tại Tiểu đoàn 1. Và ở đây họ đã tìm thấy nhau.

Ông Tư kể thời điểm đó mặc dù kỷ cương quân đội không được phép hẹn hò,

yêu đương, nhưng những ánh mắt đã thay lời muốn nói. "Dù ưng bụng lắm,

nhưng chỉ có thể vội nhìn nhau, gửi gắm đôi câu thăm hỏi mỗi lúc chuyển

gạo, mắm, muối tới khu vực bếp", ông Tư cười hiền.

Tính cách nhiệt tình, hay pha trò của anh bộ đội xứ Quảng cứ "mưa dầm

thấm lâu" khiến cô gái xứ Nghệ cảm nhận được tấm chân tình. Chuyện tình

yêu của họ không có những buổi hẹn hò lãng mạn, thay vào đó là những

mảnh giấy nhỏ dúi vội vào tay nhau khi trao nhận lương thực. Đêm về, lén mở

ra đọc, rồi vội vã hồi âm. "Cùng nhau trải qua khói lửa Điện Biên, cùng chung

một lý tưởng, một khát vọng hòa bình, vì vậy sự thấu hiểu, đồng cảm đến từ

những chia sẻ thầm lặng, từ cái nắm tay thoáng qua. Và cứ thế mà thành

đôi", ông Tư chia sẻ.

Năm 1957, ông Tư và bà Dũng quyết định về chung một nhà. Lễ cưới được tổ

chức đơn sơ tại Nghệ An. "Đám cưới thời chiến, dù thiếu thốn về vật chất, chỉ

có bộ quân phục phai màu, đãi khách chỉ có gói thuốc, chè, kẹo... nhưng lại

đầy ắp tình cảm, sự sẻ chia của đồng đội, bà con", bà Dũng xúc động nhớ lại.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn