CON ĐƯỜNG CỦA LƯƠNG THỰC VÀ MẠNG SỐNG (1)
Trên mảnh đất yên bình xã Quế Sơn (TP.Đà Nẵng) ngày nay, câu chuyện
tình yêu vượt qua bom đạn của vợ chồng cựu chiến binh Trần Đình Tư
(100 tuổi) và bà Võ Thị Dũng (91 tuổi) không chỉ là một kỷ niệm cá nhân,
mà còn là khúc tráng ca về sự kiên cường, lòng quả cảm, khát vọng hòa
bình cháy bỏng của cả một thế hệ đã làm nên chiến thắng lịch sử Điện
Biên Phủ.
CHÀNG TRAI GÁNH GẠO VÀO ĐIỆN BIÊN PHỦ
Bước sang tuổi bách niên, giọng kể của ông Trần Đình Tư (ở xã Quế Long,
H.Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam cũ, nay là xã Quế Sơn, TP.Đà Nẵng) vẫn vẹn
nguyên sự chất phác của người lính. Ánh mắt ông lấp lánh niềm tự hào khi
nhắc về những ngày tháng "tất cả cho tiền tuyến".
Tham gia thiếu sinh quân từ năm 16 tuổi, bước ngoặt lớn nhất trong đời ông
Tư gắn liền với con đường tiếp vận huyền thoại sang Lào từ năm 1946. Khi
chiến trường Điện Biên Phủ ngày càng nóng lên, ông Tư cùng đồng đội thuộc
Đại đội 11, Tiểu đoàn 12 đảm nhận nhiệm vụ vô cùng quan trọng: vận chuyển
lương thực từ Quảng Đà đưa sang tập kết tại Lào, rồi chuyển tiếp về Điện
Biên Phủ. Đó là hành trình gian khổ, vượt qua hàng ngàn cây số đường rừng
núi hiểm trở.
Ông Trần Đình Tư được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhất
"Con đường vận chuyển lương thực sang Lào những ngày đầu gặp muôn vàn
khó khăn. Không phải là những đoàn xe cơ giới rầm rộ, mà là những nhóm
người gánh gạo, mỗi nhóm chỉ từ 10 - 15 người, phải đi theo lộ trình và khung
giờ nghiêm ngặt để tránh sự dò xét của địch. Tới mỗi trạm dừng chân, mọi
người phải báo cáo bằng tín hiệu để kiểm soát số lượng, đề phòng địch trà
trộn", ông Tư nhớ lại.
Con đường Trường Sơn thuở ấy không chỉ có bom đạn, mà còn đầy những
thử thách của thiên nhiên khắc nghiệt. Đã có những lúc, vì tình hình bom đạn
khốc liệt, gạo chuyển đến nơi tiếp nhận chỉ còn vài nắm. Thế nhưng, với tinh
thần "kiến tha lâu cũng đầy tổ", những đoàn người vẫn nối nhau không nghỉ,
đưa từng hạt gạo, hạt muối vượt núi rừng, tiếp ứng cho các mặt trận từ Trung
Lào, Thượng Lào.
Advertisements
X
Vợ chồng ông Trần Đình Tư - bà Võ Thị Dũng
Giai đoạn 1953 - 1954 là đỉnh điểm của chiến dịch. Ông Tư hoạt động tại
hành lang đông và tây thuộc Trung Lào, Thượng Lào. Ở đó, ông chứng kiến
và cảm nhận được sự ác liệt của chiến trường. "Chiến trận càng cam go thì
những bước chân tiếp phẩm càng thêm hối hả. Ranh giới sống - chết chỉ
trong gang tấc. Người lính tiếp vận không thể chọn tránh bom đạn, mà phải
mang trong mình bản lĩnh gan dạ để hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng: đưa
lương thực từ hậu phương đến tiền tuyến", ông Tư quả quyết.
Những chuyến đi đó của ông Tư và đồng đội không chỉ tiếp sức cho quân tình
nguyện VN mà còn là sự phối hợp chặt chẽ, tạo điều kiện cho quân dân nước
bạn Lào giải phóng quê hương. Quan trọng hơn, chính những nguồn tiếp vận
này đã góp phần tạo nên tiền đề vững chắc, chia lửa với mặt trận Điện Biên
Phủ lịch sử.
BẾP HOÀNG CẦM VÀ LÒNG TIN VÔ ĐIỀU KIỆN
Trong khi ông Trần Đình Tư miệt mài gánh gạo trên những nẻo đường
Trường Sơn, ở Điện Biên Phủ, bà Võ Thị Dũng (quê Anh Sơn, Nghệ An) cùng
nhiều cô gái trẻ khác hưởng ứng lời kêu gọi "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để
chiến thắng". Bà lên đường ra mặt trận với nhiệm vụ vá đường, vá hố bom,
nấu ăn cho bộ đội.
Bà Dũng cùng đồng đội đã tạo nên một kỳ tích thầm lặng dưới những căn
hầm kiên cố. Cứ 7 ngày một lần, tiếp phẩm từ hậu phương lại được chất đầy
vào hầm. Ở đó, họ nhóm lửa, nấu cơm trên bếp Hoàng Cầm huyền thoại.
"Nhờ có bếp Hoàng Cầm, cơm nước phục vụ bộ đội ngay tại chiến hào,
không cần phải nắm cơm từ tuyến sau đưa lên", bà Dũng kể.
Suốt 56 ngày đêm "khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt", cuộc sống dưới
những căn hầm chật chội kề cận ranh giới sinh tử đã rèn giũa họ thành những
người lính có tinh thần thép. Tiếng máy bay địch xé trời, tiếng bom rơi trên
đầu chẳng còn là điều bận tâm. Tất cả tâm trí, tình cảm của những người trẻ
ấy đều hướng về mục tiêu chiến thắng ở Điện Biên. "Tình yêu lứa đôi là điều
khó tránh khỏi ở tuổi còn xanh, nhưng trong "chảo lửa" ấy tất cả chúng tôi đã
dành trọn vẹn tình yêu cho Tổ quốc", bà Dũng nói.
Những tấm huy chương, huy hiệu được ông Trần Đình Tư giữ gìn cẩn thận
Chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội mở ra trang sử mới của dân tộc, cũng là
lúc ông Tư và bà Dũng có cơ hội nên duyên. Ngay sau chiến dịch, cả hai
cùng được điều động về Hà Nội, rồi bố trí vào Sư đoàn 350, trở lại Sơn La -
Điện Biên tiếp tục hoạt động. Ông Tư làm quân nhu, bà Dũng làm công tác
bếp núc cho bộ đội tại Tiểu đoàn 1. Và ở đây họ đã tìm thấy nhau.
Ông Tư kể thời điểm đó mặc dù kỷ cương quân đội không được phép hẹn hò,
yêu đương, nhưng những ánh mắt đã thay lời muốn nói. "Dù ưng bụng lắm,
nhưng chỉ có thể vội nhìn nhau, gửi gắm đôi câu thăm hỏi mỗi lúc chuyển
gạo, mắm, muối tới khu vực bếp", ông Tư cười hiền.
Tính cách nhiệt tình, hay pha trò của anh bộ đội xứ Quảng cứ "mưa dầm
thấm lâu" khiến cô gái xứ Nghệ cảm nhận được tấm chân tình. Chuyện tình
yêu của họ không có những buổi hẹn hò lãng mạn, thay vào đó là những
mảnh giấy nhỏ dúi vội vào tay nhau khi trao nhận lương thực. Đêm về, lén mở
ra đọc, rồi vội vã hồi âm. "Cùng nhau trải qua khói lửa Điện Biên, cùng chung
một lý tưởng, một khát vọng hòa bình, vì vậy sự thấu hiểu, đồng cảm đến từ
những chia sẻ thầm lặng, từ cái nắm tay thoáng qua. Và cứ thế mà thành
đôi", ông Tư chia sẻ.
Năm 1957, ông Tư và bà Dũng quyết định về chung một nhà. Lễ cưới được tổ
chức đơn sơ tại Nghệ An. "Đám cưới thời chiến, dù thiếu thốn về vật chất, chỉ
có bộ quân phục phai màu, đãi khách chỉ có gói thuốc, chè, kẹo... nhưng lại
đầy ắp tình cảm, sự sẻ chia của đồng đội, bà con", bà Dũng xúc động nhớ lại.



