Con đường huyền thoại của những chuyến tàu không số'Vận chuyển hàng ngàn tấn vũ khí cho miền Nam'
Và như vậy, các tàu vỏ sắt do Xưởng đóng tàu III ở Hải Phòng đảm nhiệm đã ra đời, các tàu có trọng tải từ 50 đến 100 tấn. Tháng 3-1963, chuyến tàu vỏ sắt đầu tiên lên đường vận chuyển 44 tấn vũ khí và đã vào bến Trà Vinh an toàn. Chỉ trong vòng 1 năm, Đoàn 759 đã thực hiện 29 chuyến hàng vào Nam bộ, vận chuyển 1.430 tấn vũ khí cho chiến trường, đạt hệ số vận chuyển cao. Trước kết quả đạt được, Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Khu 7 mở bến đón tàu, để vận chuyển vũ khí từ miền Bắc vào thẳng chiến trường
Vận chuyển hàng ngàn tấn vũ khí cho miền Nam
Và như vậy, các tàu vỏ sắt do Xưởng đóng tàu III ở Hải Phòng đảm nhiệm đã ra đời, các tàu có trọng tải từ 50 đến 100 tấn. Tháng 3-1963, chuyến tàu vỏ sắt đầu tiên lên đường vận chuyển 44 tấn vũ khí và đã vào bến Trà Vinh an toàn. Chỉ trong vòng 1 năm, Đoàn 759 đã thực hiện 29 chuyến hàng vào Nam bộ, vận chuyển 1.430 tấn vũ khí cho chiến trường, đạt hệ số vận chuyển cao. Trước kết quả đạt được, Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Khu 7 mở bến đón tàu, để vận chuyển vũ khí từ miền Bắc vào thẳng chiến trường miền Đông Nam bộ.

Ngày 29-1-1964, Bộ Quốc phòng quyết định đổi phiên hiệu Đoàn 759 thành Đoàn 125 trực thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân. Từ năm 1962 đến hết năm 1964, Đoàn 125 đã huy động 17 tàu vỏ sắt, 3 tàu vỏ gỗ, tổ chức 79 chuyến vận chuyển vũ khí trang bị và cán bộ trung, cao cấp của Đảng và Quân đội vào miền Nam. Số vũ khí, trang bị mà đơn vị vận chuyển trong thời gian này được hơn 4.000 tấn. Số vũ khí đã đến được với chiến trường Nam bộ, cực Nam Trung bộ và Khu 7 đúng lúc, trực tiếp góp phần cùng các lực lượng vũ trang giành nhiều thắng lợi oanh liệt như chiến thắng Ấp Bắc, Đầm Dơi, Cái Nước, Chà Là, Vạn Tường, Ba Gia, Bình Giã... làm thất bại về căn bản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ.

Sau chuyến vận tải thành công, cuối năm 1964, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Hải quân nghiên cứu mở rộng tuyến vận tải bằng đường biển vào các bến thuộc địa bàn Khu 5. Ngày 21-9-1964, Tàu 401 được lệnh lên đường vào Khu 5, tàu có 12 cán bộ, chiến sĩ. Vượt qua sóng gió và sự tuần tra, kiểm soát gắt gao của địch, sáng 1-11-1964, tàu cập bến Lộ Diêu, toàn bộ vũ khí được giao cho lực lượng tại bến đưa về vị trí cất giấu an toàn. Do bị mắc cạn, Tàu 401 bị hỏng nặng, chi bộ quyết định đốt cháy tàu để xóa dấu vết. Sau đó, Bộ Tư lệnh Hải quân và Đoàn 125 chọn Tàu 41 tiếp tục thực hiện nhiệm vụ và vận chuyển 3 đợt vũ khí vào Khu 5 an toàn.
Tuy vậy, công việc vận chuyển đang tiến triển thì xảy ra sự kiện Tàu 143 bị lộ ở Vũng Rô. Trong trận chiến đấu không cân sức, một số bộ đội địa phương bị thương và hy sinh, ta mất một số vũ khí cất giấu chưa kịp chuyển đi.

Trong điều kiện yếu tố bí mật, bất ngờ của tuyến đường biển không còn; địch bố phòng, kiềm tỏa gắt gao; đường đi mới xa bờ, qua nhiều vùng biển lạ, nguy hiểm. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta diễn ra đồng loạt trên khắp miền Nam; để đáp ứng yêu cầu vũ khí cho chiến trường và phân tán sự đối phó của địch, từ ngày 23-2-1968 đến ngày 27-2-1968, Bộ Tư lệnh Hải quân quyết định sử dụng 4 tàu: 165, 56, 54 và 235 lên đường làm nhiệm vụ vận chuyển đặc biệt chi viện.
Từ tháng 10-1971 đến tháng 4-1972, Đoàn 125 tổ chức liên tục 20 chuyến, nhưng chỉ có một chuyến tàu tới đích. Giai đoạn 1965-1972, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 125 phải đối mặt với những thử thách gay go, ác liệt. Trong đội ngũ trung kiên của Đoàn, xuất hiện nhiều tấm gương hy sinh anh dũng, nhiều con tàu ra đi không trở lại, nhiều đồng chí, đồng đội đã vĩnh viễn yên nghỉ nơi biển cả mênh mông. Con đường vận chuyển trên biển trở thành một kỳ tích, huyền thoại, góp phần cùng quân và dân miền Nam đánh thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ.

Đặc biệt, trong giai đoạn 1973-1975, Đoàn 125 tiếp tục củng cố tổ chức, xây dựng lực lượng, vận chuyển hàng chục ngàn tấn vũ khí vào Khu 4 trên tuyến đường từ Hải Phòng đến Sông Gianh, Quảng Bình; chiến trường Quảng Trị. Ngoài vận chuyển vũ khí, Đoàn 125 còn đưa 2.042 lượt cán bộ, chiến sĩ từ hậu phương ra tiền tuyến và từ đất liền ra các đảo, vượt qua chặng đường hàng ngàn km an toàn; sau đó là vận chuyển vũ khí, đưa bộ đội ra giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa.



