Bài viết

CON ĐƯỜNG NÊN ĐI

12/08/2026Phường Lâm Viên - Đà Lạt ((LĐ) Đoàn phường Lâm Viên - Đà Lạt)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Vào một ngày đầu mùa nắng năm 1911, Sài Gòn đón một người thanh niên có một tâm hồn mới, một người bỏ nghề làm thầy, đi học nghề làm thợ. Đó là anh Nguyễn Tất Thành. 

Các ba má trong Nam có thể giúp chúng ta hiểu biết ít nhiều về anh Thành ở Sài Gòn.

Xe hỏa dừng lại ga Chợ Tía. Tôi tìm về vườn ươm Đông Quan của thôn Văn Trai, xã Cộng Hòa. Cụ Nguyễn Kiều1 mở đầu câu chuyện bằng cách tự giới thiệu mình:

-           Tôi quê ở Lai Vung. Từ đó tới Cao Lãnh khá xa nhưng tôi vẫn năng lui tới, cốt để được học thuốc với cụ Phó bảng Huy.

Cụ Kiều đưa tay chỉ khu vườn ươm, cơ sở chế thuốc và cả lớp học đào tạo các thầy thuốc nam do cụ phụ trách mà nói:

-           Đấy, chúng tôi đang làm theo sự dạy bảo của cụ Phó bảng. ___________

1. Cụ Lang Kiều (1893-1974).

Biết rõ yêu cầu của tôi, cụ chuyển hẳn câu chuyện:

-           Tôi được sống bên cụ khá lâu. Nam Kỳ hồi đó là thuộc địa nên việc giao lưu với chính quốc cũng có dễ dàng hơn. Cao Lãnh cũng như Sài Gòn và Thủ Dầu Một đều là nơi gặp gỡ của những người yêu nước. Tiếng tăm của đồng chí Nguyễn Ái Quốc lúc này đã truyền về bí mật mà vang dội. Nhiều lần tụi tôi đã hỏi cụ về người thanh niên có tên gọi mang cả tình cảm và lời thề của dân tộc ấy, nhưng cụ đều lặng thinh hoặc hướng chúng tôi sang chuyện khác. Chỉ một lần, khi tụi tôi gặng hỏi về việc học hành thì cụ trả lời: “Cũng ít nhiều có thiên tư và chịu khó”. Còn điều chủ đích mà chúng tôi muốn hỏi là theo tin truyền thì thời gian lưu lại ở Sài Gòn, có lần anh Thành đã đến gặp cụ. Nội dung buổi gặp như thế nào thì tuyệt nhiên cụ không trả lời.

Đồng chí Trần Ích1 công tác tại Bộ Nội vụ đã nói hộ điều mà chúng ta và cả cụ Nguyễn Kiều đang  thiết tha:

-           Mùa đông năm 1932, tôi bị đế quốc Pháp bắt giam vì tội tham gia phong trào Xôviết Nghệ - Tĩnh. Ở trong nhà lao Hà Tĩnh, tình cờ tôi được gặp đồng chí Nguyễn Trọng Mân - Tỉnh ủy viên Cần Thơ, bị đế quốc giải về đây lấy thêm chứng cớ để

___________

1. Trần Ích, quê làng Tùng Ảnh, nay thuộc xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

buộc tội. Đồng chí Mân rời Hà Tĩnh phiêu bạt vào đó làm ăn từ hồi còn nhỏ. Trong tù, điều kiện trò chuyện với nhau thật hiếm hoi. Khi có điều kiện, chúng tôi thông báo với nhau những điều thật hệ trọng. Một đêm, tôi trở về xà lim sau những trận đòn tra tấn chết đi, sống lại. Ý chừng lo cho tôi, đồng chí Mân cố nói vọng sang qua kẽ hở của khe cửa. Đồng chí nói rất tự nhiên, như để kịp trả lời câu hỏi của một người nào đó: “Thì chỉ có một lần ấy là lần đồng chí Nguyễn Ái Quốc đến gặp ông thân sinh ở Sài Gòn. Ông cụ hỏi: “Con đi đâu?”. Đồng chí thưa: “Con đi tìm cha”. Ông cụ nói to: “Nước mất thì đi tìm nước chứ công chi mà phải tìm cha?”. - Bỗng tôi quên hết đau và hỏi: “Thế rồi sao nữa anh?”. Đồng chí Mân đáp: “Thì còn sao nữa, cuộc gặp gỡ chỉ có thế”.

“Cuộc gặp gỡ chỉ có thế”, đồng chí Mân đã kết thúc câu chuyện như vậy, câu chuyện về một mối quan hệ cha con hiếm có. “Nước mất thì đi tìm nước”. Chỉ có thế, biết bao sức mạnh trong lời thôi thúc của người cha.

Tôi lại tìm đến chùa Bộc1. Mùi dược liệu từ sân phơi bay vào phòng làm việc của cụ Lê Xuân Quang2, một mùi thơm hòa hợp hăng hăng, dịu dịu

___________

1.   Chùa Bộc, thuộc quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, một cơ sở bào chế thuốc dân tộc.

2.   Cụ Lang Quang (1894-1975).

pha lẫn cả chua, ngọt, đắng, cay của các loại thân, hạt, rễ, lá, lấy từ nhiều thứ cây khác nhau. Ở đây cũng như tại Đông Quan nơi làm việc của cụ Kiều, tôi đều liên tưởng đến vườn thuốc của cụ Phó bảng Huy và cụ Năm Giáo ở miếu Trời Sanh1 đã được các ba má ở trong Nam kể lại. Cụ Lê Xuân Quang nói:

- Bác từ Cai Lậy thuộc đất Mỹ Tho lên Sài Gòn làm ăn từ khi còn nhỏ. Bác cư trú ở xóm Chiếu. Đó là nơi nhân dân lao động lục tỉnh và những vùng xa hơn nữa tìm về thành phố kiếm công ăn việc làm, dần dần dựng nhà cửa, lập thành xóm mạc. Trên đường từ ngõ thành phố trở về, người ta ít thấy những lão Tây bụng phệ cắp gậy hèo uốn cong và những mụ đầm môi đỏ chót, váy cũn cỡn, ưỡn ngả người trên những chiếc xe do người mình kéo như ở trên các đường phố lớn, vì đây là con đường của những người buôn vai gánh bộ, của phu phen và cũng là con đường mỗi ngày hai chiều anh Thành vẫn đi. Bác được làm quen với anh là nhờ cuộc đời làm thuê, nhờ xóm Chiếu.

Về với xóm Chiếu một thời gian, anh Thành rủ bà con trong xóm lại học chữ Quốc ngữ. Khi anh rủ

___________

1. Lúc sức khỏe đã yếu, cụ Phó bảng Huy về nghỉ tại Cao Lãnh, Sa Đéc. Cụ ở trong ngôi miếu ở trên bờ một con lạch, đó là miếu Trời Sanh. Ở đấy, cụ cùng cụ Năm Giáo làm thuốc chữa bệnh cho dân. Cụ mất ở đó vào ngày 27/10 năm Kỷ Tỵ (1929). Trước đây, bà con làng Sen lấy ngày đó làm lễ xuống đồng cấy chiêm.

bác đến thì lớp đã đông, có cả nam nữ, khác nhau về tuổi tác, nghề nghiệp và trình độ học vấn. Vở học thì bằng giấy tây, giấy bản xơ, giấy báo, ván mỏng, đủ loại. Từ những người mới tập vòng chữ “O” như bác đến những người muốn hiểu cung cách gửi một bức thư về quê hoặc muốn có một lá đơn xin việc, đều được anh chỉ vẽ tận tâm. Chủ yếu là anh tạo điều kiện cho họ tự làm lấy, cùng lắm anh mới phải làm thay. Thầy giáo, cậu giáo, anh giáo, đó là những tiếng bà con xóm Chiếu dùng để gọi anh. Lời xưng hô của bà con có khác nhau nhưng tấm lòng của họ đối với anh thì không khác, đó là sự quý trọng, niềm kính yêu.

Có lần anh Thành đến thăm bác. Bác phàn nàn là mình học dốt. Anh bảo: “Mình dốt là do thằng Tây. Chúng mình học dăm ba chữ cũng phải học giấu, học lén. Phải đuổi hết thằng Tây để chúng khỏi ức hiếp mình, khỏi đá giày đinh lên đầu mình”.

Dạy Quốc ngữ cho bà con xóm Chiếu chỉ là công việc làm thêm của anh Thành. Nghề nghiệp chính của anh lúc này là làm thợ.

Trường Kỹ nghệ thực hành Sài Gòn, nơi anh học việc lúc bấy giờ là một cơ sở công nghiệp quan trọng của xứ Đông Dương. Nó là trung tâm đào tạo thủy thủ đi biển và thợ máy cho xưởng đóng tàu Ba Son, Hải Phòng và các nơi khác. Tuy vậy trường vẫn chật hẹp, thiếu thốn. Thiết bị ở những xưởng học việc cũng nghèo nàn. Cách không xa trên đầu thợ chằng chịt cả những dây cuaroa. Trường phải dạy rất nhiều ngành nghề vì riêng ở xưởng Ba Son đã có đủ trại hàn, trại tiện, trại sửa chữa xuồng máy. Ngành nghề nào anh Thành cũng muốn biết nên anh thích quan sát và tham gia vào công việc thực hành của các lớp học sinh.

Đến Trường Kỹ nghệ thực hành, anh đã đến với những người thợ, đến để học tập, nghiên cứu, thể nghiệm. Anh đã sống và đã ra đi với tư cách là một người thợ. Anh sớm nhận biết những nguyên nhân thành bại của các phong trào yêu nước và yêu cầu bức thiết của lịch sử. Làm thế nào để giải phóng đồng bào? Trước câu hỏi lớn của Đất nước và Thời đại, anh có câu trả lời của riêng anh.

Cảng Sài Gòn, cửa ngõ phương Nam của Tổ quốc nhớ mãi hình ảnh người thanh niên mảnh khảnh, điềm tĩnh, tự tin đứng trên con tàu biển dài hơn một trăm hai mươi bốn mét, rộng mười lăm mét, mạnh hai ngàn ngựa, có sức chở năm ngàn sáu trăm tấn và có thể chạy một mạch mười hai ngàn hải lý1.

“Tôi có thể làm bất cứ việc gì”. Đó là câu anh trả lời chủ tàu và cũng là điều kiện để anh vượt Đại Dương.

Con tàu anh đi, tàu Đô đốc Latútsơ Tơrêvin hạ thủy đã được tám năm, chỉ chạy vét được một

___________

1. Theo Báo Nhân Dân số ra ngày 12/5/1975.

chuyến này nữa là phải nghỉ để sửa chữa1. Chuyến này, nó vượt Ấn Độ Dương vào giữa mùa bão. Anh Thành đi theo tàu với chân phụ bếp, sẽ phải chịu sự sai bảo của rất nhiều người. Nhưng anh chấp nhận tất cả.

Sài Gòn thay mặt Tổ quốc tiễn anh đi. Hôm ấy là ngày 5 tháng 6 năm 1911. Đất nước đau thương và anh dũng hỡi! Hãy vươn lên đón đợi! Sự nghiệp giải phóng của Người sẽ được định đoạt bởi chuyến đi lịch sử của “Cánh chim không mỏi” này. Các dân tộc bị thực dân áp bức, đọa đày hỡi! Hãy dang tay đón chào một người bạn lớn!

Người đang đi đến với chúng ta.

 

Mùa hạ, 1975

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
CON ĐƯỜNG NÊN ĐI | Câu chuyện thời hoa lửa