Cựu chiến binh

Cơn mưa rừng kéo dài ba ngày đêm

Tôi nghe câu chuyện này từ cụ Nguyễn Xuân Dinh, cựu chiến binh quê Quỳnh Lưu, Nghệ An, vào một buổi chiều trời đổ mưa rất to. Tiếng mưa gõ liên hồi trên mái nhà làm cụ chợt nhớ về Trường Sơn. Cụ nhìn màn mưa trước sân rồi nói: “Ở quê mưa vài giờ đã thấy dài. Nhưng tôi từng gặp một cơn mưa rừng kéo dài suốt ba ngày ba đêm.” Rồi cụ bắt đầu kể.

TP. Hồ Chí Minh12/08/2026Xã Hữu Kiệm (Đoàn xã Hữu Kiệm)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Cơn mưa rừng kéo dài ba ngày đêm

Tôi nghe câu chuyện này từ cụ Nguyễn Xuân Dinh, cựu chiến binh quê Quỳnh Lưu, Nghệ An, vào một buổi chiều trời đổ mưa rất to. Tiếng mưa gõ liên hồi trên mái nhà làm cụ chợt nhớ về Trường Sơn.

Cụ nhìn màn mưa trước sân rồi nói:

“Ở quê mưa vài giờ đã thấy dài. Nhưng tôi từng gặp một cơn mưa rừng kéo dài suốt ba ngày ba đêm.”

Rồi cụ bắt đầu kể.

Đó là cuối mùa mưa năm 1972. Đơn vị anh Dinh đang hành quân trên một nhánh đường Trường Sơn thì trời bất ngờ đổi gió. Ban đầu chỉ là mưa lất phất, ai cũng nghĩ rồi sẽ tạnh nhanh như những cơn mưa rừng thường gặp.

Nhưng đến chiều, mưa nặng hạt hơn.

Đến tối, cả cánh rừng như chìm trong nước.

Tiểu đội vội căng tăng dưới một sườn đồi thấp, đào rãnh thoát nước quanh chỗ ngủ. Đất đã no nước nên chỉ một lúc sau rãnh lại đầy.

Mưa trút xuống không ngớt.

Tiếng mưa trên tấm tăng lớn đến mức phải nói sát tai nhau mới nghe được.

Cụ kể:

“Đêm đầu còn nghĩ mai sẽ tạnh. Sang ngày thứ hai mới thấy đáng sợ.”

Sáng hôm sau, rừng trắng xóa hơi nước. Quần áo ướt sũng từ tối qua chưa kịp khô, giờ lại ướt thêm. Võng nhỏ nước, chăn ẩm, ba lô cũng hút nước nặng trĩu.

Đường hành quân biến thành dòng bùn đỏ chảy xuống khe.

Đơn vị phải tạm dừng di chuyển.

Ba ngày mắc kẹt giữa rừng bắt đầu từ đó.

Cái khổ nhất không phải đói, mà là ướt liên tục.

Ướt áo, ướt quần, ướt chăn, ướt cả giấc ngủ.

Da tay nhăn trắng, chân phồng rộp vì ngâm nước quá lâu. Mỗi lần cởi dép cao su ra là bùn và nước chảy thành dòng.

Anh Hòa ở Diễn Châu nhìn đôi chân mình rồi than:

“Chân ni không phải chân người nữa rồi.”

Cả tiểu đội cười, nhưng tiếng cười nghe mệt mỏi.

Bếp không nhóm được.

Củi rừng ướt nhẹp, khói bốc lên rồi tắt. Anh em phải gom những mẩu nhựa thông khô còn sót trong thân cây để mồi lửa. Có khi mất cả tiếng mới đun được một bi đông nước nóng.

Bữa ăn chỉ là cơm nắm đã se lại, chấm muối vừng và uống nước chè loãng.

Đêm thứ hai, mưa còn lớn hơn.

Nước từ sườn đồi chảy xuống thành dòng ngay dưới võng. Mọi người phải dậy giữa đêm, chuyển võng lên cao hơn.

Trong ánh đèn pin bọc giấy đỏ, những khuôn mặt trẻ hiện ra xanh xao vì lạnh và thiếu ngủ.

Cụ kể nhỏ:

“Lúc ấy nhớ nhà kinh khủng.”

Anh nhớ gian bếp ở Quỳnh Lưu, nhớ ổ rơm khô, nhớ tiếng mưa trên mái tranh quê nhà khác hẳn tiếng mưa Trường Sơn. Mưa quê có hơi ấm của mái nhà. Mưa rừng thì lạnh và mênh mông.

Có lúc anh nằm nghe mưa mà nghĩ không biết bao giờ mới thấy lại mặt trời.

Sáng ngày thứ ba, cơn sốt rừng bắt đầu xuất hiện ở vài người. Một tân binh run cầm cập trong võng. Tiểu đội trưởng Trần Văn Hậu quê Thanh Chương lấy phần chăn của mình đắp thêm cho bạn rồi bảo:

“Giữ ấm đã, thuốc để sau.”

Không ai còn giữ riêng đồ khô cho mình nữa.

Ai có mẩu đường thì bẻ đôi.

Ai còn ít chè khô thì bỏ chung vào ấm.

Ai có áo tương đối khô thì cho người đang sốt mượn trước.

Cụ nói chậm rãi:

“Ba ngày mưa ấy làm chúng tôi thành anh em thật sự.”

Chiều ngày thứ ba, mưa bắt đầu nhẹ hạt.

Ban đầu chỉ là tiếng rơi thưa hơn trên tấm tăng. Rồi khoảng trời phía tây nhạt dần.

Một tia nắng rất mỏng xuyên qua tán lá.

Cả tiểu đội gần như cùng ngẩng lên.

Không ai bảo ai, mọi người vội mang chăn áo ra phơi trên cành cây. Khói bếp lại bốc lên giữa rừng ẩm. Tiếng nói cười cũng trở lại sau ba ngày nặng trĩu.

Anh Hòa giơ mặt lên trời, cười lớn:

“Tao tưởng mặt trời bỏ Trường Sơn rồi chứ!”

Lần này tiếng cười vang thật sự.

Tối hôm đó, lần đầu tiên sau ba ngày, mọi người được ăn bát cơm nóng tử tế. Chỉ cơm độn với ít rau rừng thôi mà ai cũng thấy ngon lạ thường.

Ngồi quanh bếp lửa, quần áo còn bốc hơi nước, anh Dinh nhìn những khuôn mặt đồng đội đỏ lên trong ánh lửa mà thấy lòng mình ấm lại.

Cụ kể:

“Sau cơn mưa ấy, tôi không còn sợ mưa rừng nữa.”

Tôi hỏi:

“Vì sao ạ?”

Cụ mỉm cười:

“Vì tôi biết dù mưa bao lâu, bên cạnh mình vẫn có đồng đội.”

Nhiều năm sau, cụ đi qua những mùa mưa còn khắc nghiệt hơn trên Trường Sơn. Có những trận mưa làm lũ cuốn mất đường, có những đêm nước ngập tận võng, có những chuyến hành quân phải đi trong mưa suốt hàng tuần.

Nhưng cơn mưa ba ngày ba đêm đầu tiên ấy vẫn ở lại rõ nhất trong ký ức.

Là người sưu tầm lịch sử, tôi hiểu rằng thiên nhiên Trường Sơn cũng là một đối thủ khắc nghiệt của người lính. Bom đạn có thể đến bất ngờ, còn mưa rừng bào mòn con người từng giờ, từng ngày.

Thế nhưng chính trong những ngày ướt lạnh, đói mệt và tưởng như không thấy mặt trời ấy, tình đồng đội lại sáng lên rõ nhất: một phần chăn sẻ đôi, một ngụm nước nóng chuyền tay, một câu động viên giữa đêm mưa.

Cơn mưa rừng kéo dài ba ngày đêm không chỉ là thử thách của thiên nhiên. Đó là phép thử của lòng người – và những chàng trai Nghệ An năm ấy đã vượt qua nó bằng sự chịu đựng, bằng tình thương dành cho nhau và bằng niềm tin rằng sau mưa, nhất định sẽ có mặt trời.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Cơn mưa rừng kéo dài ba ngày đêm | Câu chuyện thời hoa lửa