“Con sóc Tây Nguyên” và trận Cầu Bông – Anh hùng Đoàn Sinh Hưởng
1. Tên bài viết:
“Con sóc Tây Nguyên” và trận Cầu Bông – Anh hùng Đoàn Sinh Hưởng
2. Họ và tên nhân chứng:
Trung tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Đoàn Sinh Hưởng
3. Đoạn mô tả ngắn:
Bài viết kể về Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng – người lính xe tăng từng lập chiến công trong trận Buôn Ma Thuột và trận Cầu Bông, mở cửa tiến vào Sài Gòn. Với dáng người nhỏ bé nhưng gan dạ, ông được đồng đội gọi là “con sóc Tây Nguyên”, và được phong Anh hùng LLVT nhân dân năm 1975.
4. Nội dung bài viết:
Anh hùng Đoàn Sinh Hưởng sinh năm 1949 tại xã Bình Ngọc, thị xã Móng Cái (nay là phường Móng Cái 1). Lớn lên trong gia đình coi trọng nghĩa tình, trước ngày con trai lên đường nhập ngũ, người cha dặn: “Dù sau này làm chỉ huy, con vẫn phải thương anh em như ruột thịt.” Năm 1966, chàng thanh niên chỉ cao chưa đầy 1,5m, nặng 48kg xung phong nhập ngũ, được biên chế vào Đại đoàn 308.
Cuộc hành quân đầu tiên từ Trà Cổ về Phú Thọ là phép thử khắc nghiệt. Hàng trăm cây số băng rừng, vượt đèo, chân phồng rộp, khẩu phần chỉ là nắm cơm với ít muối vừng. Ông nhỏ người nhưng bền bỉ, có khi còn cõng thêm ba lô của đồng đội yếu hơn. “Một người khỏe không đủ, phải khỏe cùng nhau mới đi hết con đường,” ông nói. Ông sớm được bầu làm tiểu đội trưởng.
Năm 1968, tại Khe Sanh, ông được kết nạp Đảng ngay trên chiến hào, ở tuổi 19. Sau Khe Sanh, chuyển vào Tây Nguyên, ông thể hiện rõ bản lĩnh người chỉ huy trẻ. Vóc dáng nhỏ bé, nhanh nhẹn, ông thường xung phong đi đầu mở đường, luồn qua dốc dựng đứng, men theo suối đưa xe tăng vào vị trí. Đồng đội đặt biệt danh “con sóc Tây Nguyên”. Biệt danh càng đặc biệt sau một trận đánh ác liệt, ông bị lạc giữa rừng ba ngày, hết lương khô, hết nước, phải nhai lá rừng cầm hơi. Đến ngày thứ tư, “con sóc rừng” trở về, gầy rộc nhưng mắt vẫn sáng.
Năm 1975, ông mang quân hàm Thiếu úy, giữ chức Đại đội trưởng Đại đội xe tăng 9. Ngày 10/3/1975, Đại đội 9 nhận lệnh tiến đánh trung tâm Buôn Ma Thuột. Xe tăng 980 do ông chỉ huy dẫn đầu, bắn cháy xe M113, bắt sống Phó tỉnh trưởng Đắk Lắk cùng hàng trăm lính. Lá cờ chiến thắng được cắm trên nóc Sư đoàn bộ 23 ngụy lúc 11 giờ 30 phút.
Trận Cầu Bông sáng 29/4/1975 là dấu ấn sâu đậm nhất. Cửa ngõ Tây Bắc Sài Gòn, địch có 24 xe tăng, đại đội của ông chỉ còn 4 xe. Ông bình tĩnh phân tích, ém quân hai bên đường, chờ địch lọt vào tầm bắn. Phát đạn đầu tiên bắn cháy xe đi đầu, phát tiếp theo phá hủy xe cuối, làm đội hình địch rối loạn. Trong hơn một giờ, 4 xe của ông bắn cháy 12 xe địch, mở thông cửa ngõ. Đại đội tiếp tục đánh chiếm Trại Quang Trung, ngã tư Bảy Hiền, sân bay Tân Sơn Nhất. Trưa 30/4, ông có mặt khi xe tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập.
Cuối năm 1975, ông được phong Anh hùng LLVT nhân dân. Sau đó, ông học tập, trở thành Tư lệnh Binh chủng Tăng thiết giáp, rồi Tư lệnh Quân khu 4, quân hàm Trung tướng. Ở tuổi ngoài 70, ông vẫn về thăm quê, nhắn nhủ thế hệ sau: “Hòa bình không tự nhiên mà có, đó là máu xương của bao người.”



