Con suối cứu cả tiểu đội khỏi khát
Tôi nghe câu chuyện này từ cụ Nguyễn Xuân Dinh, cựu chiến binh quê Quỳnh Lưu, Nghệ An, vào một buổi trưa nắng gắt. Cụ rót cho tôi bát nước chè xanh rồi nói: “Người đi rừng mới hiểu, có lúc một ngụm nước quý hơn cả bữa cơm.” Rồi cụ kể về con suối đã cứu cả tiểu đội khỏi khát. Đó là mùa khô năm 1973. Đơn vị anh Dinh hành quân trên một đoạn Trường Sơn ít dân cư, nhiều đồi trọc do bom đạn và chất độc hóa học tàn phá. Trời nắng như đổ lửa, gió thổi cũng nóng rát mặt.

Tôi nghe câu chuyện này từ cụ Nguyễn Xuân Dinh, cựu chiến binh quê Quỳnh Lưu, Nghệ An, vào một buổi trưa nắng gắt. Cụ rót cho tôi bát nước chè xanh rồi nói:
“Người đi rừng mới hiểu, có lúc một ngụm nước quý hơn cả bữa cơm.”
Rồi cụ kể về con suối đã cứu cả tiểu đội khỏi khát.
Đó là mùa khô năm 1973. Đơn vị anh Dinh hành quân trên một đoạn Trường Sơn ít dân cư, nhiều đồi trọc do bom đạn và chất độc hóa học tàn phá. Trời nắng như đổ lửa, gió thổi cũng nóng rát mặt.
Mỗi người chỉ còn chưa đầy nửa bi đông nước.
Buổi sáng còn cầm cự được. Đến gần trưa, cổ họng ai cũng khô khốc, môi nứt ra vì thiếu nước. Đường hành quân cứ kéo dài mãi giữa những sườn đồi cháy nắng.
Tiểu đội trưởng Trần Văn Hậu quê Thanh Chương dừng lại, nhìn bản đồ rồi nói:
“Phía trước có khe suối, cố thêm chút nữa.”
Cả tiểu đội lại bước tiếp.
Nhưng đi hơn một giờ vẫn chưa thấy nước đâu.
Anh Hòa ở Diễn Châu lắc bi đông, nghe tiếng nước sóng sánh rất ít rồi cười gượng:
“Nghe còn buồn hơn không nghe.”
Mọi người bật cười yếu ớt.
Cụ Dinh kể:
“Lúc ấy chân còn đi được, nhưng miệng khô đến mức nói cũng khó.”
Nắng hắt từ mặt đất lên làm đầu óc choáng váng. Mỗi người đi cách nhau vài mét, cúi gằm mặt xuống đường.
Đến đầu giờ chiều, một tân binh phía sau loạng choạng rồi ngồi phịch xuống đất.
“Em khát quá…”
Giọng cậu gần như chỉ còn hơi thở.
Hậu lập tức cho tiểu đội dừng lại. Anh mở bi đông của mình, còn chưa đầy vài ngụm, đưa cho cậu lính trẻ.
“Uống đi.”
Cậu ngần ngại:
“Còn anh?”
Hậu cười:
“Tiểu đội trưởng khát sau.”
Không ai nói gì, nhưng ai cũng hiểu anh vừa chia phần nước cuối cùng của mình.
Nghỉ vài phút, cả đội tiếp tục đi.
Lần này Hậu đi lệch khỏi đường mòn, men theo một triền đá có nhiều cây xanh hơn. Anh vừa đi vừa quan sát mặt đất.
Cụ hỏi tôi:
“Cậu biết người đi rừng tìm nước thế nào không?”
Rồi tự trả lời:
“Nhìn cây cối, nhìn đất ẩm, nhìn cả đường chim bay.”
Đi thêm chừng hai trăm mét, Hậu bất ngờ giơ tay ra hiệu dừng lại.
Mọi người lắng nghe.
Trong cái nắng im phăng phắc, có một âm thanh rất nhỏ.
Tiếng nước chảy.
Ban đầu chỉ như tiếng gió luồn qua lá. Nhưng càng đi gần, tiếng nước càng rõ.
Cả tiểu đội gần như quên mệt, bước nhanh hơn qua bụi cây và những tảng đá.
Rồi trước mắt họ hiện ra một khe suối nhỏ, nước trong veo chảy giữa hai phiến đá phủ rêu xanh.
Cụ kể, giọng vẫn còn xúc động dù đã hơn nửa thế kỷ:
“Nhìn thấy nước mà ai cũng muốn lao xuống ngay.”
Nhưng Hậu quát khẽ:
“Bình tĩnh! Không uống ừng ực.”
Anh dùng ca nhôm múc nước, cho từng người uống từng ngụm nhỏ trước. Nước suối lạnh buốt, ngọt lịm sau nhiều giờ khát cháy cổ.
Anh Dinh uống ngụm đầu tiên mà cảm giác như cả cơ thể sống lại.
Mọi người thay nhau uống, rửa mặt, đổ đầy bi đông. Có người cúi xuống ôm mặt khóc vì nhẹ nhõm.
Anh Hòa vừa uống vừa cười:
“Từ nay ai hỏi tao quý gì nhất, tao nói quý con suối ni.”
Tiếng cười vang lên giữa khe núi khô nóng.
Cả tiểu đội nghỉ bên suối gần một giờ. Có người ngâm chân trong nước mát, có người tranh thủ giặt chiếc khăn tay đã bám đầy bụi đỏ.
Hậu ngồi trên tảng đá, nhìn anh em uống nước rồi mới lấy ca múc cho mình sau cùng.
Anh Dinh hỏi:
“Sao anh không uống trước?”
Hậu đáp đơn giản:
“Thấy anh em còn khát thì uống không ngon.”
Câu nói ấy theo cụ Dinh suốt cả cuộc đời.
Trước khi rời đi, mọi người cùng đào rộng thêm chỗ lấy nước và đặt một cành cây làm dấu cho đơn vị đi sau. Trong chiến tranh, tìm được nguồn nước giữa mùa khô không chỉ cứu một tiểu đội, mà có thể cứu nhiều người khác.
Chiều hôm ấy, hàng quân bước tiếp nhẹ nhõm hơn hẳn. Bi đông đầy nước lại đung đưa bên hông, tiếng nói cười cũng trở lại trên con đường nắng cháy.
Cụ Dinh nhìn tôi rồi nói:
“Cậu biết điều gì quý nhất không? Không phải là con suối. Mà là khi khát đến thế, vẫn có người nhường cho mình ngụm nước cuối cùng.”
Nhiều năm sau, cụ đã đi qua biết bao con suối Trường Sơn. Có con suối đỏ màu đất, có con lạnh như băng, có con phải bò qua giữa bom đạn.
Nhưng khe suối nhỏ giữa mùa khô năm 1973 vẫn ở lại rõ nhất trong ký ức.
Là người sưu tầm lịch sử, tôi hiểu rằng chiến tranh không chỉ là những trận đánh lớn. Nó còn là cuộc chiến từng ngày với đói, khát, sốt rét và sự kiệt sức.
Và trong những hoàn cảnh ấy, phẩm chất đẹp nhất của người lính Việt Nam thường hiện lên rất giản dị: một người nhường ngụm nước cuối cùng cho đồng đội.
Con suối cứu cả tiểu đội khỏi khát không chỉ cứu những cơ thể đang kiệt sức. Nó còn làm cho những chàng trai trẻ hiểu sâu hơn rằng giữa rừng Trường Sơn khắc nghiệt, thứ giữ họ sống sót không chỉ là nước, mà còn là tình đồng đội – dòng nước trong lành nhất của đời lính.



