Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

CÔNG BINH TRƯỜNG SƠN TRONG MÙA XUÂN NĂM 1975

Sinh năm: 1941 Quê quán: Quỳnh Hồng, Quỳnh Phụ, Thái Bình Thường trú: 459 đường Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội Từ Bộ GTVT chuyển sang Quân đội tháng 4 năm 1965 Điện thoại: 04.38542368 - 0912.441021 Nguyên Trợ lý Kỹ thuật Ban Công binh Trung đoàn 98, Thương uý Trợ lý phòng Kế hoạch, Cục Tham mưu Công binh 559, Nguyên Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn

Lai Châu12/02/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thực hiện Nghị quyết 81/QUTVV ngày 05 tháng 5 năm 1973 của Quân uỷ Trung ương chuyên đề về Chi viện chiến trường và phát triển tuyến chi viện Trường Sơn trong tình hình mới, Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã khẩn trương triển khai toàn diện, song vấn đề quan tâm nhất là thế trận cầu đường và lực lượng vận tải cơ giới.


Từ tháng 6 năm 1973 tuyến Đông Trường Sơn đã mở thông đoạn Trao - Bến Giàng, nối liền hậu phương miền Bắc với Tây Nguyên. Sư đoàn 473 tập trung mở chiến dịch Đường 9 - Xưởng Giây dài 120 ki lô mét có cả thiết bị làm đường hiện đại của Cu Ba viện trợ. Nhưng vẫn còn những cái chốt của địch trên hành lang phía Đông Trường Sơn là Đắk Pét (Kon Tum), phải mở đường tránh Đắk Tả - Đắk Tùng dài 30 ki lô mét về phía tây Đắk Pét, Sư đoàn 470 mở đường từ Ô Ranh qua Cam Pu Chia để tránh Đắk Min, Đức Lập.


Đến giữa năm 1974, lực lượng cầu đường trên tuyến Trường Sơn đã có 4 sư đoàn, 5 trung đoàn công binh, và 4 đoàn thanh niên xung phong với quân số trên 6 vạn người và trên 3.000 xe máy các loại. Theo yêu cầu của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Phan Trọng Tuệ, tháng 3 năm 1974 ông Đặng Hữu, Chủ nhiệm khoa cầu đường, trường Đại học Xây dựng và một số thầy hường Đại học Giao thông đưa hàng trăm kỹ sư vào tăng cường cho công binh Trường Sơn. Cảm động biết bao những học trò trường Đại học Giao thông đã đeo mũ sao đang mở đường Trường Sơn được gặp lại các thầy như thầy Nguyễn Quang Chiêu, Nguyễn Văn Định... trên đèo Bù Lạch cao 1020 mét và cùng phóng tuyến tìm đường trong những ngày lịch sử này.


Ngày 12 tháng 9 năm 1974, Hội nghị Quân chính bộ đội Trường Sơn được triệu tập tại Bến Tắt để quán triệt Nghị quyết của Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Trường Sơn mùa khô 1974-1975 bao gồm cả Kế hoạch cơ bản vả Kế hoạch thời cơ. Những cán bộ đã gắn bó với Trường Sơn hàng chục năm trời, nhiều người tóc đã điểm sương, trong những phút giải lao ngoài hành lang, tay năm chặt tay, thầm mong kế hoạch thời cơ đến sớm.


Đối với Cục Tham mưu công binh do đồng chí Phan Quang Tiệp làm Cục trưởng đã chủ động chỉ đạo các cơ quan triển khai chỉ lệnh cầu đường tới các đơn vị công binh. Đồng chí Đỗ Đức Định, Phó phòng Bảo đảm giao thông được biệt phái xuống Trung đoàn 39 Sư đoàn 968 làm Phó Trung đoàn trưởng cùng cán bộ cầu phà và 6 cán bộ khảo sát thiết kế để mở đường bên Lào ngay trong mùa mưa. Từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1974 đã mở được 60 ki lô mét đường phục vụ vận chuyển ngay khi mùa khô tới. Cuối tháng 01 năm 1975 Cục phó Đỗ Xuân Diễn đi kiểm tra tuyến Tây Trường Sơn từ Bản Đông qua Xa Ra Van, Bản Phồn, X7, tới At Tô Pơ dài gần 400 ki lô mét. Khi đoàn quay ra, đứng trên đỉnh cao nguyên Bô Lô Ven nhìn xuống, cả tuyến đường chỉ còn là vệt bụi màu vàng khổng lồ kéo dài vô tận, người, xe pháo, tên lửa!.. đi như mắc cửi. Có một số đoạn ùn tắc đoàn phải dừng lại cùng đơn vị khắc phục ngay. Ai cũng vội vàng ra trận, chỉ để lại đằng sau những ánh mắt tin tưởng và nụ cười với hàm răng trắng nổi bật giữa cành lá xanh ngụy trang và áo quần đầy bụi màu vàng sẫm.


Các cụm kho dự trữ dọc đường 9 từ Đông Hà đến Tân Lâm cũng như Sa Thầy, Bù Gia Mập... đầy ắp hàng từ quân trang đến đạn dược, lương thực thực phẩm, thuốc quân y, phụ tùng xe máy. Kho K600 của Cục Công binh ở Sa Mưu cũng phải mở rộng để chứa hàng. Các cảng Hòn La, Sông Gianh, Nhật Lệ, Đông Hà ngày đêm tàu vào trả hàng và xuất đi ngay các chiến trường.


Ngày 19 tháng 12 năm 1974. Bộ Tư lệnh Trường Sơn nhận được lệnh của Bộ Tổng Tham mưu tham gia chiến dịch Tây Nguyên. Tháng 01 năm 1975, Trung đoàn 575 Công binh được thành lập và mở ngay đường chiến dịch. Đến ngày 04 tháng 3 năm 1975, trục đường dài 60 ki lô mét do Trung đoàn 575 thi công cách thị xã Buôn Ma Thuột về phía Bắc 20 ki lô mét, nhưng địch cũng không phát hiện được gì. Sư đoàn 470 có nhiệm vụ bắc cầu phao Sê Rê Pôc và cưa sẵn 2/3 cây trong rùng cao su và đúng 23 giờ ngày 09 tháng 3 năm 1975 công binh chỉ cần gạt nhẹ cây đã tạo thành đường, hộ tống cho xe tăng và pháo tấn công Buôn Ma Thuột. Đó là những yếu tố bất ngờ góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên.


Chúng tôi không thể nào quên, ngày 08 tháng 02 năm 1975, sân bóng đá của Cục Công binh bên bờ Nam sông Bến Hải được đón chiếc máy bay trực thăng đầu tiên của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Từ sáng sớm, cán bộ tác chiến đã ra sân bóng chuẩn bị: 4 đống lửa bốn góc sân được đốt lên, những cột khói mờ xanh cuộn lên không trung. Giữa sân chữ thập bằng vải trắng khô 80 cen ti mét nổi bật trên màu xanh của thảm cỏ. Đúng 8 giờ 30, chiếc trực thăng màu cỏ úa nổi bật ngôi sao vàng trên thân xuất hiện từ phía Đông, ngược sông Bến Hải một đoạn rồi vòng lại và từ từ hạ cánh. Trước khi lên máy bay ra Hà Nội họp, Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên xúc động nói với mọi người: Bộ đội Trường Sơn trước đây chỉ có rừng và đêm, giờ đâv chúng ta làm chủ cả mặt đất và bầu trời...


Mọi người có mặt cảm thấy như mơ như thực và tự hào, vinh dự được chứng kiến những giờ phút lịch sử đối với cách mạng miền Nam. Và có ai nghĩ rằng sân bóng do Tiểu đoàn 69 Công binh xây dựng lại trở thành sân bay trực thăng như hôm nay. Sau đó, ngày nào sân bay cũng có trực thăng lên xuống, lúc thì háng chục cán bộ dân chính tăng cường cho các vùng mới giải phóng, lúc thì chở khí tài thông tin, quân y lúc thì các đoàn cán bộ quân sự trong ra ngoài vào, rồi có cả những đoàn người, vai lủng lẳng các máy quay phim, chụp ảnh...


Ngày 18 tháng 3 năm 1975, địch rút chạy khỏi thị xã Quảng Trị về Huế, theo chỉ thị của Bộ Tư lệnh Trường Sơn, Cục trưởng Phan Quang Tiệp giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 99, do đồng chí Vũ Như Thường làm Trung đoàn trưởng, hành quân gấp vào bắc cầu phao Thạch Hãn đủ 2 làn xe, bảo đảm cho bộ đội vượt sông truy kích địch.


Tiếp theo Trung đoàn 8 do Trung đoàn trưởng Nguyễn Việt Phúc chỉ huy đảm bảo giao thông đường B74, 14B để Sư đoàn 324 đánh tràn xuống đường 1 và Huế từ hướng Tây Nam. Trung đoàn 99 tiếp tục bắc cầu phao, cầu be lây trên đường 1 như Thạch Hãn, An Lỗ, Thừa Lưu. Trung đoàn 8 khắc phục các chướng ngại vật, bãi mìn, làm đường vòng tránh, khắc phục cầu Truồi và cầu phao Bến Tuần. Để chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh, Trung đoàn 531 được điều động tiếp theo nhận nhiệm vụ bảo đảm giao thông đường số 1.


Sở chỉ huy tiền phương Cục Công binh do Cục phó Đỗ Xuân Diễn chỉ huy có cán bộ các phòng Bảo đảm giao thông, Kế hoạch, Thiết kế... chỉ đạo trực tiếp các đơn vị công binh và phối hợp với các lữ đoàn công binh, các sư đoàn, quân đoàn bảo đảm cầu đường cho các cánh quân cơ động, hành tiến.


Theo chỉ thị của tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên, ngày 26 tháng 3 năm 1975, một bộ phận cán bộ do Cục phó Cục Công binh Dương Đình Tạ phụ trách bao gồm các cơ quan Tác chiến, Phòng không, Công binh, Vận tải,... có nhiệm vụ trinh sát nắm tình hình cầu đường theo đường 1 từ Quảng Trị trở vào.


Theo tài liệu của địch ta lấy được, từ Quảng Trị vào Xuân Lộc dài gần 1000 ki lô mét có tới 569 cầu lớn nhỏ, nhưng chưa rõ cái nào còn, cái nào bị địch phá huỷ khi rút chạy. Riêng từ Đà Nẵng vào Nha Trang dài 640 ki lô mét, địch đã phá hầu hết các cầu lớn như Cao Lâu, Bà Bầu, An Tân... trong khi khí tài vượt sông của các quân đoàn chỉ đủ vài bộ cầu phà. Vì vậy Bộ Tư lệnh Trường Sơn đồng ý với phương án do Cục Tham mưu Công binh đề xuất: điều gấp 3 Trung đoàn Công binh 98, 8, 531 bảo đảm cầu đường cho cánh quân Duyên hải dọc đường 1 từ Huế vào Nha Trang. Sư đoàn 470 đang bảo đảm giao thông đường 14 nay tiếp tục bảo đảm giao thông từ Plâycu xuống Quy Nhơn và từ Quy Nhơn vào Phan Rang.


Các cụm kho của địch ở Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Cam Ranh, Buôn Ma Thuột... đầy ắp vật tư khí tài, quân trang, quân dụng, lính công binh khoái nhất là dầm cầu be lây, thuyền hợp kim nhôm, thuyền cao su để bắc cầu nổi. Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên đồng ý cho công binh lấy các khí tài, vật tư vượt sông tại các kho của địch để khắc phục ngay các cầu bị địch phá huỷ. Các đơn vị công binh cũng kêu gọi, trưng dụng và động viên hàng trăm sĩ quan và lính công binh nguỵ tham gia ngay vào việc khai thác các kho và bắc cầu. Họ làm rất thành thạo, bài bản và tích cực như một phần đáo công chuộc tội với cách mạng.


Trên hai hướng tiến quân là đường 1 và đường Trường Sơn, lực lượng công binh Trường Sơn đã bảo đảm cùng một lúc cho các quân đoàn, binh chủng hợp thành hành quân thần tốc vào Sài Gòn. Công binh Trường Sơn đã khôi phuc kịp thời 96 cầu dài 4.316 mét, có 68 cầu be lây, 15 cầu dầm thép, 5 cầu phao... Bảo đảm giao thông thông suốt trên các trục đường 1,14, 19, 57... Trung đoàn 99 bắc chiếc cầu be lây cuối cùng là cầu Cỏ May ở Vũng Tàu và dừng chân tại thành phố Biên Hòa trong trụ sở phái đoàn Quốc tế. Bộ phận của đồng chí Dương Đình Tạ dừng chân tại nhà máy đèn phía Tây thành phố Biên Hòa. Sở chỉ huy Tiền phương Cục Công binh của đồng chí Đỗ Xuân Diễn dừng chân tại kho Dục Mỹ, cách ngã ba Ninh Hòa về phía tây khoảng 12 ki lô mét.


Trong những ngày chuẩn bị và phát triển của chiến dịch Hồ Chí Minh, mỗi phòng, ban cơ quan Cục Tham mưu Công binh ở Bến Hải chỉ còn vài người, hầu hết cán bộ được cử đi tăng cường cho các mũi tiến quân của công binh. Mỗi buổi sáng giao ban lại thêm một tin thắng lợi mới của quân ta. Ký hiệu cờ đỏ các đơn vị công binh trên sơ đồ mạng đường chiến lược đang từng ngày từng giờ bám sát đại quân tiến về Sài Gòn. Nhiều buổi sau giao ban, Cục trưởng Phan Quang Tiệp còn ngồi lại hàng giờ bên tấm bản đồ 1/100.000 cùng các đồng chí Phạm Văn Thọ, Hoàng Ngọc Châu, Đào Mậu... để tìm các giải pháp vượt sông, bảo đảm vật tư, khí tài cho phía trước.


Và giờ phút lịch sử của dân tộc đã tới...!

13 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng tôi được triệu tập gấp lên phòng giao ban. Cục trưởng Phan Quang Tiệp luôn mỉm cười và ân cần đón tiếp mọi người, một cử chỉ rất khác lạ ở người thủ trưởng quê Quảng Ngãi này. Sau khi mọi người đã yên vị, ông đứng lên tay run run rút tờ điện cơ yếu, giọng hơi lạc đi:

- Các đồng chí... quân ta đã cấm cờ trên Dinh độc lập ở Sài Gòn lúc 11 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975...

Cả phòng giao ban như bật dậy: Sài Gòn giải phóng rồi. Sài Gòn giải phóng rồi! Chúng tôi ôm lấy nhau, vỗ tay rồi nắm tay nhau chạy ra chạy vô như trẻ nhỏ. Riêng Cục trưởng vẫn ngồi đó, nét mặt đăm chiêu và chúng tôi nhìn thấy hai giọt nước lóng lánh như hai ngồi sao từ khoé mắt ông đang từ từ lăn trên gò má! Ngoài kia các phòng, các ban mọi người chạy ra sân, ra đường cùng vang lên: Sài Gòn giải phóng rồi!... giải phóng rồi... âm thanh ấy như cơn lốc hòa với tiếng vỗ tay vang dội của bà con hai bên bờ sông Bến Hải mãi không dứt.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn