Công binh Việt Nam – Hình thành và trưởng thành trong kháng chiến
Đoạn viết khái quát quá trình hình thành và trưởng thành của Công binh Việt Nam. Ngày 21/9/1945, Phân đội 16 – đơn vị công binh đầu tiên – được thành lập tại Huế với khoảng 40 người, chủ yếu là thợ thủ công và học sinh kỹ thuật. Cuối năm 1945, Ban Công binh Trị – Thiên ra đời, đặt nền móng cho hệ thống chỉ đạo công binh. Ngày 25/3/1946, theo Sắc lệnh 34 do Hồ Chí Minh ký, Công chính Giao thông Cục được thành lập – mốc ra đời của Công binh Quân đội nhân dân Việt Nam; ngày 23/3 trở thành ngày tr
Ngày 15 tháng 9 năm 1945, phân đội 16 tuyển quân và ngày 21 tháng 9 năm 1945 chính thức thành lập với quân số khoảng 40 người, phần lớn là thợ mộc, thợ nề, học sinh Trường Kỹ nghệ Huế. Đồng chí Nguyễn Văn Ngưu được cử làm phân đội trưởng, đồng chí Lê Vừa làm phân đội phó.
Trong thời gian đầu xây dựng đơn vị, phân đội 16 vừa huấn luyện, vừa chữa nhà cửa trong Đội Cung, chuẩn bị phá hoại cầu Tràng Tiền, Lăng Cô và các nhà máy điện, nước...
Cuối năm 1945, Phân khu Trị - Thiên được thành lập. Ban Công binh Thừa Thiên - Huế chuyển thành Ban Công binh Trị - Thiên. Phân đội 16 tách một tiểu đội thành phân đội công binh Quảng Trị.
Phân đội công binh Huế thành lập ngày 21 tháng 9 năm 1945 là phân đội công binh đầu tiên. Ban chỉ đạo công binh Thừa Thiên – Huế là cơ quan chỉ đạo công binh đầu tiên của quân đội ta. Binh chủng Công binh ngày một trưởng thành theo bước trưởng thành của quân đội ta và phát triển đi lên như nhiều binh chủng khác.
Ngày 25 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 34 quy định tổ chức Bộ Quốc phòng. Trong các cục chuyên môn có Công chính giao thông Cục. Sắc lệnh quy định: "Công chính giao thông Cục có nhiệm vụ tổ chức thi hành việc vận tải, thông tin, vẽ bản đồ và tổ chức công binh dùng vào việc chuyên môn: cầu cống, đường sá, máy móc...".
Một thời gian sau, Công chính giao thông Cục chuyển dần thành cơ quan chỉ đạo công binh toàn quân. Ngày 23 tháng 3 năm 1946 đánh dấu sự ra đời của Công binh Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 23 tháng 3 trở thành ngày truyền thống của Công binh Việt Nam.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Công binh Việt Nam liên tục đạt nhiều thành tích xuất sắc và từng bước trưởng thành, trở thành một binh chủng vững mạnh của quân đội ta, đóng góp to lớn vào chiến thắng thực dân Pháp. Trải qua 9 năm chiến đấu, vượt qua vô vàn gian khổ, công binh góp phần vào thắng lợi chung cùng dân tộc.
Công binh Việt Nam ra đời và lớn lên trong cuộc kháng chiến chống Pháp theo sát sự phát triển của lực lượng vũ trang cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, vừa chiến đấu, vừa xây dựng, Công binh Việt Nam đã trưởng thành từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, từ phân tán đến tập trung, từ chiến đấu du kích đến chiến đấu hiệp đồng, quy mô ngày càng rộng lớn.
Hoạt động của công binh là hoạt động kỹ thuật chuyên môn. Nhờ có đường lối và chính sách đúng đắn của Đảng và Bác Hồ mà nhiều kỹ sư, chuyên viên kỹ thuật, sinh viên, học sinh, công nhân viên lành nghề được đào tạo trong chế độ cũ đã tham gia công binh. Đội ngũ này là nòng cốt quan trọng trong việc xây dựng Công binh Việt Nam trở thành một lực lượng chuyên môn kỹ thuật quân sự, hoàn thành nhiệm vụ và góp phần đặt cơ sở cho việc phát triển Công binh Việt Nam sau này.
Từ thực tiễn chiến đấu, công binh đã khai phá con đường, xây dựng nền móng công binh trong ba thứ quân trên khắp các chiến trường; đã xây dựng một đội ngũ cán bộ và nhân viên kỹ thuật ngày càng đông; đã xây đắp nên truyền thống vẻ vang "Mở đường thắng lợi" và đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm phong phú trong kho tàng kỹ thuật quân sự Việt Nam.
Do nhiều hạn chế khách quan, trong kháng chiến chống Pháp, công binh chưa có điều kiện để xây dựng thành một binh chủng chính quy hiện đại, nên trình độ tác chiến hiệp đồng ở quy mô nhỏ. Những hạn chế đó đòi hỏi Công binh ngày càng nỗ lực hơn, phấn đấu xây dựng binh chủng ngày càng vững mạnh, chính quy hiện đại trong thời gian hòa bình sau thắng lợi kháng chiến chống thực dân Pháp.
Tôi về nhận nhiệm vụ ở Cục Công binh thì Binh chủng đã có bề dày truyền thống xây dựng và trương thành, trong đó gần mười năm củng cố xây dựng binh chủng tiến lên chính quy và hiện đại, phát triển công binh miền Nam góp phần đánh thắng chiến tranh đặc biệt của Mỹ - ngụy giai đoạn 1954-1964; tiếp đến là nâng cao chất lượng huấn luyện, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu khi chiến tranh xảy ra.
Với tầm nhìn xa của Đảng, Bác Hồ kính yêu, chuẩn bị đề phòng chiến tranh ác liệt có thể xảy ra, lực lượng quân đội nói chung, công binh nói riêng luôn luôn tăng cường luyện tập đề cao cảnh giác, ra sức học tập thông hiểu binh khí kỹ thuật hiện đại, sẵn sàng đập tan mọi mưu đồ gây chiến của địch, sẵn sàng đánh thắng trận đầu.
| Miền Bắc nước ta thời gian từ năm 1954 đến tháng 8 năm 1964 là thời kỳ hòa bình. Khi tôi về nước, ta đã bước sang năm thứ ba thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Cuộc sống nhân dân ta từ nông thôn đến thành thị có những đổi thay to lớn. Đúng như nhà thơ Tố Hữu có viết: "Năm năm mới bấy nhiêu ngày, Mà trông trời đất đổi thay đã nhiều. Dân có ruộng dập dìu hợp tác. Lúa mượt đồng ấm áp làng quê. Chiêm mùa cờ đỏ ven đê. Sớm hôm tiếng trống đi về nông thôn..." Những ngày hòa bình thật là quý giá, nhưng không được dài. Âm mưu của địch đầy hận thù và lắm quỷ quyệt. Điều này ta đã nhận ra từ lâu, nên Đảng, Bác Hồ đã đề ra nhiều chiến lược, sách lược với tầm nhìn xa, trông rộng đầy tính chất cảnh giác cao, phòng thủ cao! Do yêu cầu phòng thủ miền Bắc, công tác xây dựng quốc phòng được triển khai trên diện rộng ở các vùng duyên hải, hải đảo, giới tuyến quân sự tạm thời... Ở Bộ có Trung đoàn 259 đảm nhiệm xây dựng các sở chỉ huy. Ở các quân khu có các tiểu đoàn chuyên trách xây dựng các công trình quốc phòng. Các đơn vị được chấn chỉnh cho phù hợp với điều kiện thi công và yêu cầu giữ bí mật cao. Trung đoàn công binh 259 chuyển thành Trung đoàn kiến trúc 259 với các đội chuyên môn đào đất, đổ bê tông, xe - máy, bảo quản công trình... Các chiến sĩ chuyển sang chế độ quân nhân chuyên nghiệp. Ở các quân khu, các tiểu đoàn xây dựng công trình cũng chuyển thành các đội kiến trúc với chế độ quân nhân chuyên nghiệp. Việc xây dựng các công trình quân sự có ý nghĩa chiến lược, chiến dịch cũng được chú trọng. Để chuẩn bị cho Không quân hoạt động, Bộ Tổng Tham mưu thành lập Công trường 120 sửa chữa các sân bay, đầu tiên là sửa chữa sân bay Kép. Nhiệm vụ xây dựng và bảo đảm sân bay trở thành một trong những nhiệm vụ ngày càng lớn của công binh. Đối với tôi, từ một sĩ quan bộ binh chỉ huy cấp trung đoàn chuyển sang chỉ huy Binh chủng Công binh cũng là một thử thách rất lớn. Hơn nữa, xuất phát điểm văn hóa của tôi quá thấp, đến nỗi Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Song Hào lúc nào cũng giễu vui tôi: - Trần Bá Đặng thực sự i - tờ mà làm Tổng công trình sư ngon ơ! Để làm được điều này, tuổi trẻ của tôi chỉ có hai việc: đánh giặc và học tập! Là người lính, chúng tôi chỉ biết tuân lệnh cấp trên, là con người tôi cũng có nhiều đam mê và đắn đo như bao nhiêu người bình thường khác. Như đã tường trình ở phần trước, trước khi du học, tôi có xin cả đồng chí Song Hào và đồng chí Trần Quý Hai cho tôi học trường Phrunde. Đây là nơi đào tạo sĩ quan chỉ huy bộ binh nổi tiếng của Liên Xô. Tôi xuất thân là sĩ quan chỉ huy bộ binh trải qua thực tế chiến đấu. Tôi học bộ binh sẽ thuận lợi hơn nhiều. Với tôi đảm trách chỉ huy một sư đoàn bộ binh, thậm chí cả cấp quân đoàn tôi có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ. Học trường Phrunde chỉ ba năm sẽ thuận lợi cho tôi nhiều việc, cả việc công lẫn việc tư. Nhưng "quân lệnh như sơn". Tôi chỉ có việc chấp hành. Và từ một sĩ quan bộ binh tôi trở thành một sĩ quan công binh chuyên nghiệp. Không chỉ là sĩ quan chỉ huy, tôi còn đảm trách công việc của một Tổng công trình sư chỉ đạo xây dựng hàng trăm công trình quốc phòng, công trình tuyệt mật, các công trình có tính chất chiến lược lâu dài. |


